Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 là một trong những tội phạm tương đối phức tạp, đòi hỏi việc xét xử phải chuẩn xác. Để đảm bảo đúng người đúng tội, việc áp dụng tinh thần của Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Hãy cùng Luật A+ tìm hiểu chi tiết về cách áp dụng nghị quyết này và 4 yếu tố cấu thành tội phạm ngay sau đây!
1. Giá trị tham khảo của Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ hiện nay
Hiện tại chỉ có duy nhất một Nghị quyết hướng dẫn về tội giết người là Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC/NQ. Tuy nhiên, nghị quyết này được xem là đã không còn phù hợp để áp dụng. Do vẫn chưa có nghị quyết thay thế cho Nghị quyết trên nên khi giải quyết vụ việc về Tội giết người, chúng ta vẫn có thể tham khảo và áp dụng tinh thần của Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ vào giải quyết vụ án giết người.
2. Các yếu tố cấu thành tội giết người theo quy định pháp luật hiện hành
Để một hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự hiện hành, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Thiếu một trong các yếu tố này, hành vi không thể bị coi là phạm tội giết người.
2.1. Khách thể của tội giết người
Khách thể của tội giết người là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đặc biệt – cụ thể là quyền được sống, quyền được bảo vệ về tính mạng của con người.
Đối tượng tác động của tội phạm này bắt buộc phải là con người đang sống. Điều này có nghĩa là hành vi chỉ cấu thành tội giết người khi hướng tới một cơ thể còn dấu hiệu sinh tồn. Trong trường hợp người phạm tội cố ý thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng nhưng thực tế nạn nhân đã chết trước đó (mà người phạm tội không biết), vụ việc sẽ được xem xét dưới góc độ pháp lý chuyên sâu về lỗi cố ý, giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc có thể cấu thành một tội danh khác như tội xâm phạm thi thể.
2.2. Mặt khách quan của tội giết người
Mặt khách quan của cấu thành tội giết người là sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, đòi hỏi phải làm rõ mối liên hệ của 3 yếu tố:
- Hành vi khách quan: Là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật. Hành vi này đa số được thực hiện bằng hành động (sử dụng vũ lực, vũ khí như đâm, chém, bắn, hoặc đầu độc…). Tuy nhiên, pháp luật hình sự cũng ghi nhận hành vi giết người bằng không hành động – xảy ra khi một người có nghĩa vụ pháp lý phải hành động để cứu nạn nhân nhưng cố tình bỏ mặc (ví dụ: mẹ cố ý không cho con bú dẫn đến đứa trẻ tử vong, hoặc bác sĩ cố tình không cấp cứu bệnh nhân trong cơn nguy kịch).
- Hậu quả: Hậu quả trực tiếp là cái chết của nạn nhân. Dù tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất, nhưng đối với hành vi cố ý tước đoạt tính mạng, ngay cả khi hậu quả chết người chưa xảy ra (do nạn nhân được cấp cứu kịp thời), người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.
- Mối quan hệ nhân quả: Đây là yếu tố bắt buộc mang tính định tội. Hành vi trái pháp luật của người phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp, có tính chất quyết định và tất yếu dẫn đến hậu quả nạn nhân tử vong.
2.3. Chủ thể của tội giết người
Chủ thể của tội giết người là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản về độ tuổi và năng lực hành vi.
Vì tội giết người (Điều 123) thuộc nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, chủ thể của tội này bao gồm người từ đủ 14 tuổi trở lên. Bên cạnh giới hạn về độ tuổi, tại thời điểm thực hiện hành vi, người phạm tội phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự – tức là có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, không thuộc trường hợp mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức.
2.4. Mặt chủ quan của tội giết người
Mặt chủ quan phản ánh trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội khi thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác. Yếu tố này được xác định chủ yếu qua hình thức lỗi:
- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có thái độ thờ ơ, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
Đối với cấu thành tội phạm cơ bản của tội giết người, động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Tuy nhiên, hai yếu tố này lại có ý nghĩa quyết định trong việc định khung tăng nặng (chuyển từ Khoản 2 lên Khoản 1 Điều 123) và là cơ sở để áp dụng các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chuyên sâu như Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC/NQ.
3. Nội dung hướng dẫn tại Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ
Nội dung Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC/NQ hướng dẫn một số vấn đề liên quan đến tội giết người, đặc biệt là những tình tiết thể hiện tính nguy hiểm cao của tội phạm giết người (Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự), cụ thể như sau:
3.1. Giết người vì động cơ đê hèn (điểm q)
Việc xem xét có phải giết người vì động cơ đê hèn hay không phụ thuộc vào việc xem xét chuẩn mực đạo đức cộng đồng. Theo đó, khi giết người vì những lí do mang tính ích kỉ cao, phản trắc, có sự lệch lạc đạo đức nghiêm trọng thì xem là giết người vì động cơ đê hèn.
- Ví dụ: giết người để cướp vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ khắc phục khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ v.v…

3.2. Giết người để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác (điểm g)
Động cơ để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác là tình tiết định khung của tội giết người quy định ở điểm g Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Còn tội phạm khác có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng cần được xử lý theo một tội danh riêng.
- Nếu tội phạm khác cần xét xử, thì xét xử về hai tội (tội giết người và “tội phạm khác”), quyết định hình phạt đối với từng tội phạm (tuần tự theo thời gian thực hiện) rồi tổng hợp thành hình phạt chung, như hiếp dâm xong rồi giết nạn nhân để che giấu tội phạm thì bị xử lý về tội hiếp dâm (Điều 141) và tội giết người (Điều 123, khoản 1, điểm a).
- Nếu “tội phạm khác” có tính chất, mức độ nguy hiểm hạn chế (như: tội phạm chưa đạt, hậu quả chưa xảy ra hoặc không đáng kể…), mà xét thấy không cần thiết phải xử lý về hình sự thì có thể không xét xử về tội phạm đó, nhưng phải phân tích trong bản án.
3.3. Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác (điểm e)
Đây là tình tiết định khung của tội giết người theo Điều 123 khoản 1, điểm e Bộ luật Hình sự. “Liền trước đó” hoặc “ngay sau đó” là vừa kết thúc tội phạm trước đã thực hiện ngay tội phạm sau. Người phạm tội có tính nguy hiểm cao (trong một thời gian rất ngắn phạm hai tội nghiêm trọng) phải bị xử lý về hai tội (tội giết người theo Điều 123, khoản 1, điểm e và tội nghiêm trọng khác). Hình phạt được quyết định đối với mỗi tội phạm và tổng hợp thành hình phạt chung.
3.4. Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b)
Giết người một cách man rợ được giải thích là kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội.
- Ví dụ: giết người nhưng còn móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt nạn nhân ra từng khúc,…
3.5. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm d)
Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện.
Người thực hiện một công việc vì nghĩa vụ công dân (như bắt giữ kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải là người thi hành công vụ, nhưng nếu do công việc đó mà họ bị giết, thì họ có thể được hưởng chính sách bảo hiểm xã hội như đối với người thi hành công vụ và hành vi của kẻ giết người đó cũng bị xử lý theo điểm d, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Kẻ giết người có thể thực hiện tội phạm khi nạn nhân sắp thi hành công vụ hoặc đang thi hành công vụ để cản trở họ thi hành công vụ, hoặc giết người đã thi hành công vụ để trả thù hoặc để đe dọa người khác.
4. Luật sư tư vấn Hình sự
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
5. Các câu hỏi thường gặp về Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ
Trong quá trình xử lý các vụ án hình sự, việc áp dụng các điều khoản của nghị quyết hướng dẫn tội giết người vào thực tế luôn đòi hỏi sự phân tích chính xác về mặt chuyên môn để tránh làm sai lệch bản chất vụ án. Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn thấu đáo và giải tỏa những vướng mắc pháp lý phổ biến, Luật A+ đã tổng hợp các câu hỏi và giải đáp trọng tâm dưới đây:
5.1. Chưa làm chết người thì có bị xử lý về Tội giết người không?
Có, người thực hiện hành vi vẫn bị xử lý hình sự về Tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất, nhưng hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác vô cùng nguy hiểm nên dù hậu quả chết người chưa xảy ra (do được cấp cứu kịp thời), hành vi đó đã thỏa mãn mặt khách quan của tội phạm. Lúc này, cơ quan tố tụng sẽ căn cứ vào tính chất nguy hiểm, hung khí sử dụng và vùng trọng yếu trên cơ thể bị tấn công để định tội danh. Người phạm tội chưa đạt vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt quy định tại Điều 123 nhưng mức hình phạt tối đa sẽ được giảm nhẹ theo quy định chung của Bộ luật Hình sự.
5.2. Người say rượu khi giết người có được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?
Không, người phạm tội do say rượu hoặc dùng chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ. Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự, trạng thái say sưa do tự mình đưa vào không phải là căn cứ để miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, bởi họ hoàn toàn có quyền lựa chọn không sử dụng các chất này. Việc pháp luật siết chặt quy định nhằm răn đe và nâng cao ý thức của mỗi cá nhân trong việc kiểm soát hành vi trước khi để chất kích thích chi phối. Do đó, khi các yếu tố cấu thành tội giết người đã thỏa mãn, trạng thái say rượu thậm chí còn phản ánh ý thức coi thường pháp luật và tính mạng của người khác.
5.3. Bao nhiêu tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người?
Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người theo quy định hiện hành. Do giết người là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất lên đến tử hình, Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm rất nghiêm khắc nhằm răn đe đối tượng vị thành niên. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, dù chưa phát triển toàn diện nhưng pháp luật buộc họ phải nhận thức được tính nguy hiểm tột độ của hành vi tước đoạt mạng sống. Tuy nhiên, khi xét xử nhóm chủ thể đặc biệt này, tòa án sẽ áp dụng các nguyên tắc xử lý chuyên biệt và mức hình phạt tối đa không quá 12 năm tù.
5.4. Vô ý làm chết người và cố ý gián tiếp giết người khác nhau như thế nào?
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở nhận thức và thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hậu quả chết người. Ở tội vô ý làm chết người, người phạm tội tuy thấy trước hành vi có thể gây hậu quả nhưng tự tin cho rằng sẽ ngăn chặn được, hoặc hoàn toàn không thấy trước dù đáng lẽ phải thấy. Ngược lại, trong lỗi cố ý gián tiếp của cấu thành tội giết người, đối tượng nhận thức rất rõ hành vi của mình cực kỳ nguy hiểm, thấy trước hậu quả chết người hoàn toàn có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng lại có thái độ chấp nhận, thờ ơ và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
5.5. Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khác gì Tội giết người?
Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một tội danh độc lập với mức hình phạt nhẹ hơn rất nhiều so với Tội giết người thông thường. Sự khác biệt này nằm ở việc người phạm tội bị mất khả năng tự chủ tạm thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân gây ra trước đó đối với họ hoặc người thân thích. Trong khi tội giết người tại Điều 123 xuất phát từ ý chí chủ quan độc ác hoặc mâu thuẫn thông thường, thì tội danh giảm nhẹ tại Điều 125 đòi hỏi cơ quan tố tụng phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả hệ trọng giữa lỗi nghiêm trọng của nạn nhân và sự bùng nổ ức chế tâm lý của người phạm tội.
Hi vọng thông qua các phân tích chuyên sâu về việc áp dụng Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ trong định tội danh giết người mà Luật sư A+ chia sẻ ở trên, quý khách hàng đã có được những thông tin hữu ích và cái nhìn pháp lý chuẩn xác nhất. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến việc áp dụng nghị quyết này hoặc cần hỗ trợ chuyên sâu về các vấn đề hình sự, quý khách hàng vui lòng liên hệ ngay với Luật sư A+ để được đồng hành và bảo vệ quyền lợi kịp thời.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
- Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


