Home » Hình sự » Luận cứ bào chữa “thực tế” cho vụ án cố ý gây thương tích tại Luật A+

Luận cứ bào chữa “thực tế” cho vụ án cố ý gây thương tích tại Luật A+

Luận cứ bào chữa tội cố ý gây thương tích là tài liệu đắc lực hỗ trợ cho luật sư khi tranh luận để bảo vệ cho khách hàng của mình tại phiên tòa. Sau đây, Luật A+ xin mời bạn đọc cùng theo dõi 01 bài luận cứ bào chữa tội cố ý gây thương tích tại chính hãng luật của chúng tôi.

1. Luận cứ bào chữa Tội cố ý gây thương tích là gì?

Luận cứ bào chữa tội cố ý gây thương tích là tài liệu được chính Luật sư viết ra để hỗ trợ cho việc bào chữa của mình tại phiên tòa. Bài luận cứ bào chữa sẽ bao gồm những căn cứ, tình tiết có thật được sử dụng để bào chữa – biện hộ, bệnh vực cho người bị hại, đương sự hoặc thanh minh, giải thích cho hành vi sai phạm của bị cáo trước Tòa án nhằm đạt được mục đích giảm án phạt cho người được bảo vệ.
Đây tài liệu quan trọng vừa giúp luật sư nghiên cứu, rà soát lại một lần nữa hồ sơ vụ án, vừa giúp luật sư đi đúng hướng, tránh bào chữa lan man, tản mạn, không đúng mục tiêu để ra. Một bản luận cứ tốt không chỉ giúp cho luật sư khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa mà còn giúp cho bị cáo và người nhà của bị cáo vững tin vào một phán quyết công bằng, đúng đắn từ Tòa án.
luận cứ bào chữa tội cố ý gây thương tích 01
Luận cứ bào chữa có ý nghĩa gì trong vụ án cố ý gây thương tích?

2. Các hướng bào chữa phổ biến trong vụ án Cố ý gây thương tích

Trong các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích (Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017), việc xác định đúng hướng bào chữa là yếu tố sống còn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ. Dưới đây là ba hướng chiến lược mà Luật sư thường áp dụng:

2.1. Bào chữa theo hướng vô tội hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm

Đây là hướng bào chữa tối ưu nhất nếu hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị cáo không thỏa mãn các dấu hiệu định tội:
  • Phòng vệ chính đáng: Luật sư tập trung chứng minh hành vi của bị cáo là nhằm chống trả lại sự xâm phạm của người khác một cách cần thiết, cấp bách để bảo vệ lợi ích hợp pháp. Theo quy định, nếu thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng, bị cáo sẽ được miễn trách nhiệm hình sự.
  • Sự kiện bất ngờ: Làm rõ tình huống bị cáo không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả thiệt hại, qua đó khẳng định bị cáo không có lỗi trong vụ việc.
  • Thiếu yếu tố cấu thành: Chứng minh tỷ lệ tổn thương cơ thể không đạt mức truy cứu trách nhiệm hình sự (đối với các trường hợp không thuộc ngoại lệ tại khoản 1 Điều 134) hoặc chứng minh bị cáo không có lỗi cố ý.

2.2. Bào chữa theo hướng chuyển tội danh (Tội danh nhẹ hơn)

Trong trường hợp hành vi có dấu hiệu phạm tội nhưng chưa đến mức nghiêm trọng như cáo trạng nêu, Luật sư sẽ đề nghị xem xét áp dụng các tội danh có mức án thấp hơn:
  • Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Chiến lược này thường được áp dụng khi bị cáo thực sự có hành vi tự vệ nhưng mức độ phản kháng vượt quá mức cần thiết. Việc chuyển tội danh sang Điều 136 giúp thay đổi khung hình phạt theo hướng có lợi hơn rất nhiều.
  • Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Chứng minh hành vi xảy ra do bị hại có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng, khiến bị cáo mất khả năng kiểm soát hành vi (Điều 135).

2.3. Bào chữa theo hướng giảm nhẹ hình phạt

Khi các chứng cứ buộc tội đã rõ ràng, mục tiêu của Luật sư là tối đa hóa các tình tiết giảm nhẹ để đạt được mức án thấp nhất hoặc hưởng án treo:
  • Khắc phục hậu quả: Tập trung vào việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, chi phí điều trị và tổn thất tinh thần cho bị hại.
  • Tình tiết giảm nhẹ (Điều 51 BLHS): Khai thác triệt để các yếu tố như: Bị hại có lỗi một phần; Bị cáo có thành tích tốt, nhân thân chưa từng có tiền án, tiền sự; Gia đình có công với cách mạng; Đã chủ động ra đầu thú và thành khẩn khai báo.
  • Đơn bãi nại: Hỗ trợ kết nối để bị hại có nguyện vọng bãi nại hoặc xin giảm án. Đây thường là “chìa khóa” quan trọng để Hội đồng xét xử xem xét hưởng án treo hoặc áp dụng mức án dưới khung.

3. Cấu trúc một bài luận cứ bào chữa chuyên nghiệp

Một bản luận cứ bào chữa hiệu quả không chỉ là văn bản trình bày sự việc, mà là “kim chỉ nam” để luật sư định hướng tư duy cho Hội đồng xét xử. Dưới đây là cấu trúc chuẩn mực cho một bài luận cứ:
  • Phần 1: Căn cứ pháp lý
Luật sư cần trích dẫn chính xác và đầy đủ các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có liên quan trực tiếp đến tội danh bị truy tố. Việc dẫn chiếu các văn bản hướng dẫn áp dụng luật, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao sẽ tạo nền tảng vững chắc, khẳng định tính đúng đắn trong lập luận và giúp Hội đồng xét xử dễ dàng đối chiếu, áp dụng các quy định pháp luật để đưa ra phán quyết công bằng.
  • Phần 2: Tóm tắt nội dung vụ án
Ở phần này, luật sư cần tái hiện lại diễn biến vụ án một cách khách quan nhưng khéo léo làm nổi bật các chi tiết có lợi cho bị cáo mà có thể hồ sơ vụ án chưa phản ánh hết. Việc làm rõ nguyên nhân sâu xa, bối cảnh thực tế và áp lực ngoại cảnh dẫn đến sự việc là cực kỳ quan trọng, giúp Hội đồng xét xử có cái nhìn đa chiều, thấu hiểu nguyên do thực sự thay vì chỉ tập trung vào hành vi gây thương tích bề nổi.
  • Phần 3: Phân tích các tình tiết giảm nhẹ
Đây là trọng tâm của bản luận cứ, nơi luật sư chứng minh bị cáo xứng đáng nhận được sự khoan hồng. Luật sư cần tổng hợp và làm nổi bật các yếu tố như nhân thân tốt, thái độ thành khẩn khai báo, sự hối cải từ giai đoạn điều tra, hành vi lỗi từ phía bị hại, cũng như các nỗ lực khắc phục hậu quả qua việc bồi thường. Việc đưa ra các bằng chứng cụ thể về sự tự nguyện và thiện chí của bị cáo sẽ tác động tích cực đến nhận thức của Hội đồng xét xử về tính chất nguy hiểm của vụ án.
  • Phần 4: Đề nghị cụ thể với Hội đồng xét xử
Phần này là thông điệp chốt lại toàn bộ nội dung bào chữa, trong đó luật sư cần đưa ra yêu cầu rõ ràng, dứt khoát về mức án hoặc hình phạt cụ thể cho bị cáo. Dựa trên các căn cứ đã phân tích, luật sư có thể đề nghị áp dụng án treo, mức án dưới khung hình phạt hoặc chuyển tội danh để đảm bảo tính nhân văn và phù hợp với chính sách khoan hồng, tạo điều kiện tối đa cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng.

4. Luận cứ bào chữa trong vụ án cố ý gây thương tích tại Luật A+

Sau đây là vụ án về cố ý gây thương tích mà khách hàng đã nhờ Luật A+ bào chữa và kết quả là khách hàng đã được tuyên phạt 02 năm tù treo về Tội cố ý gây thương tích. Bài luận cứ bào chữa như sau:
Tổng quan vụ án:
Ông T và bà H có quan hệ cột chèo. Năm 2021, hai người có mâu thuẩn trong gia đình, bà H thường xuyên chửi mắng ông T bà từ ngữ khá thậm tệ. Cuối năm 2020, trong một trận cãi vã thì bà H có cầm dao ra nhằm mục đích gây thương tích cho ông T, ông T đã nhặt đoạn cây đánh trúng tay bà H. Sau khi giám định thương tật thì Trung tâm giám định pháp y cho kết quả là 23%.
Cơ quan điều tra TP VT đã tiến hành khởi tố vụ án và tạm giam ông T vì tội cố ý gây thương tích bị truy cứu theo khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 với mức hình phạt cao nhất là 3 năm tù.
Bài luận cứ bào chữa:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
VT, ngày __ tháng __ năm____
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Kính thưa vị Đại diện Viện Kiểm sát,
Kính thưa Quý luật sư đồng nghiệp và các vị tham gia phiên tòa ngày hôm nay,
Tôi là Luật sư Nguyễn Duy A, luật sư đang công tác tại Công ty Luật TNHH A+, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, theo yêu cầu của ông T, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách người bào chữa cho ông T.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, kết quả của việc xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, tôi có ý kiến pháp lý để bào chữa cho bị cáo T.V.T như sau:
Đầu tiên, tôi đồng ý với các tình tiết giảm nhẹ mà Viện Kiểm sát đã ghi nhận trong Cáo trạng bao gồm: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội từ đủ 70 tuổi trở lên.
Ngoài các tình tiết nêu trên, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ như sau đối với bị cáo T.V.T và cho bị cáo T được hưởng án treo với các căn cứ sau:
Các tình tiết giảm nhẹ chưa được ghi nhận
Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho phía bị hại:
  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự – BLHS) thì“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • Tại Đơn bãi nại ngày 12/05/2023, bị hại đã xác nhận về việc bị cáo và bị hại “đã thống nhất và thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại có liên quan đến vụ án này, tôi đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại” từ bị cáo.
Do vậy, có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết giảm nhẹ này.
Bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi:
  • Tại khoản 2 Điều 52 BLHS quy “khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”.
  • Tại Mục I.5 Công văn 212/TANDTC-PC thì Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các Toà án dựa vào điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP để xác định tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS, trong đó có tình tiết “Người bị hại cũng có lỗi” và “người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản”.
  • Trong hồ sơ vụ án, tại Kết luận điều tra và Cáo trạng đều ghi nhận nguyên nhân bị cáo T thực hiện hành vi đánh bị hại là do bị hại cầm 02 con dao lao đến.
  • Tại Đơn bãi nại ngày 12/05/2023, bị hại đã có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Do vậy, có căn cứ để ghi nhận tình tiết bị hại cũng có một phần lỗi; bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết giảm nhẹ này.
Bị cáo đáp ứng các điều kiện để được hưởng án treo:
Căn cứ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP (“Nghị quyết 02”) thì bị cáo đáp ứng các điều kiện để hưởng án treo, cụ thể:
a. Về mức hình phạt:
  • Căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02 thì để được hưởng án treo người phạm tội phải bị xử phạt tù không quá 03 năm.
  • Khung hình phạt của bị cáo bị truy tố là từ 02 đến 06 năm tù.
Như vậy, theo quy định trên, bị cáo vẫn có thể đáp ứng điều kiện về mức hình phạt để được hưởng án treo.
b. Về nhân thân:
  • Căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02 thì về nhân thân, để được hưởng án treo người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
  • Tại Cáo trạng cũng xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn chấp chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc, chưa từng vi phạm pháp luật.
Như vậy, theo quy định trên, bị cáo đã đáp ứng điều kiện về nhân thân người phạm tội để được hưởng án treo.
c. Về tình tiết giảm nhẹ:
  • Căn cứ khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02, người phạm tội có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Tại Cáo trạng, Cáo trạng đã xác định bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ bao gồm: (i) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; (ii) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên theo điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Đồng thời, Cáo trạng cũng xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, tại Đơn bãi nại ngày 12/05/2023, bị hại đã xác nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và đề nghị các Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét cho bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, có căn cứ để xác định bị có còn có 03 tình tiết giảm nhẹ là: (iii) người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS; (iv) bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và (v) bị hại có một phần lỗi theo khoản 2 Điều 52 BLHS.
Như vậy, theo quy định trên, bị cáo đã đáp ứng điều kiện về tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội để được hưởng án treo.
d. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định:
  • Căn cứ khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 02, người phạm tội có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
  • Hiện tại, bị cáo đang thường trú tại địa chỉ: abc, abc, zda, huyện XM, tỉnh BRVT, là nơi cư trú hợp pháp của bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 2 và khoản 1 Điều 11 của Luật cư trú 2020. Bị cáo cư trú thường xuyên tại địa chỉ nêu trên, đảm bảo việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền dễ dàng giám sát, giáo dục.
Theo các quy định trên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng đồng thời có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Như vậy, bị cáo đáp ứng được điều kiện về nơi cư trú, làm việc của người được hưởng án treo.
đ. Về khả năng cải tạo, không nhất thiết phải chấp hành chính phạt tù:
  • Tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 02 quy định nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì có thể cho hưởng án treo.
  • Tại Điều 31 Bộ luật Hình sự quy định mục đích của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
  • Hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt quá nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo. Bị cáo là người cao tuổi, năm nay đã 70 tuổi, sức khỏe rất yếu, mang nhiều bệnh trong người như: cao huyết áp, gan nhiễm mỡ, đóng vôi hai thận, bướu tiền liệt tuyến; khớp gối bị tụ dịch; phì đại tiền liệt tuyến; tiểu đường, gan nhiễm mỡ. Với tình trạng như vậy, bị cáo không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, bị cáo cần được chăm sóc y tế thường xuyên, liên tục để chống chọi với bệnh tình, việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền ngân sách nhà nước.
Như vậy, có thể thấy bị cáo có khả năng cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không cần phải chấp hành hình phạt tù, đáp ứng được điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Vì những căn cứ trên, Luật sư bào chữa kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ
  • Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 134 Bộ luật Hình sự.
  • Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP
Quyết định:
  • Ghi nhận bị cáo T.V.T có 5 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm: (i) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; (ii) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; (iii) người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; (iv) bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và (v) bị hại có một phần lỗi.
  • Cho bị cáo T.VT được hưởng án treo theo quy định.
Kính mong Quý Tòa xem xét chấp nhận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng./.
LUẬT SƯ BÀO CHỮA
NGUYỄN DUY A
luận cứ bào chữa tội cố ý gây thương tích 02
Mẫu luận cứ bào chữa Tội cố ý gây thương tích tại Luật A+.

5. Luật sư tư vấn Hình sự

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

6. Các câu hỏi thường gặp về bào chữa tội cố ý gây thương tích

Chúng tôi hiểu rằng khi đối diện với các vấn đề hình sự, bạn sẽ có rất nhiều lo lắng và thắc mắc. Dưới đây là những câu hỏi thường gặp mà đội ngũ Luật A+ nhận được, giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về hướng giải quyết vụ việc của mình:

6.1. Bồi thường thiệt hại cho bị hại xong có chắc chắn được hưởng án treo không?

Việc tự nguyện bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ quan trọng (theo Điều 51 BLHS), thể hiện sự hối cải của bị cáo. Tuy nhiên, để được hưởng án treo, Tòa án còn xem xét nhiều yếu tố khác như: nhân thân bị cáo, mức độ phạm tội, lỗi của bị hại và các quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP). Bồi thường là điều kiện cần, nhưng để đạt được án treo cần một bản luận cứ bào chữa sắc bén để thuyết phục Hội đồng xét xử về tổng thể các điều kiện còn lại.

6.2. Nếu bị hại đã rút đơn bãi nại, tôi có bị truy tố tiếp không?

Đối với tội cố ý gây thương tích (Điều 134), đây không phải là tội danh khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Do đó, ngay cả khi bị hại đã bãi nại, cơ quan điều tra vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng nếu hành vi phạm tội đã đầy đủ yếu tố cấu thành. Tuy nhiên, đơn bãi nại từ phía bị hại là tình tiết cực kỳ quan trọng giúp Luật sư bảo vệ bị cáo có cơ sở đề nghị giảm nhẹ hình phạt tối đa hoặc miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể.

6.3. Luật sư bào chữa có thể giúp tôi chuyển từ án tù sang án treo được không?

Luật sư không trực tiếp quyết định hình phạt, nhưng đóng vai trò then chốt trong việc thu thập chứng cứ, xây dựng luận cứ và trình bày các tình tiết giảm nhẹ một cách thuyết phục nhất trước Tòa. Bằng kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng tranh tụng, Luật sư sẽ giúp bị cáo khai thác tối đa các lợi thế pháp lý, đảm bảo Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở để cân nhắc áp dụng các biện pháp khoan hồng như án treo, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thân chủ theo quy định của pháp luật.
Luận cứ bào chữa Tội cố ý gây thương tích trong vụ án cố ý gây thương tích trên đã được Luật sư A+ thực hiện và sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng đã giúp cho bị cáo được hưởng hình phạt là 02 năm tù treo. Điều này cho thấy luận cứ bào chữa luôn là một tài liệu quan trọng. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
Các bài viết cùng lĩnh vực