Hành vi cố ý gây thương tích là một hành vi nguy hiểm, đáng báo động nhưng lại thường xuyên xảy ra trong xã hội hiện nay. Đôi khi chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt, một phút bốc đồng nhưng một người lại có thể gây tổn thương đến sức khỏe của người khác, dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Sau đây, hãy cùng Luật A+ tìm hiểu một cách khái quát những khía cạnh pháp lý, những dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích để hiểu rõ hơn về tội này.
1. Dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích
Những đặc trưng mà qua đó tội cố ý gây thương tích có thể được xác định, bao gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan sẽ được làm rõ theo thứ tự dưới đây. Một hành vi chỉ khi thỏa mãn đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên mới bị coi là tội phạm theo pháp luật hình sự.
1.1. Khách thể
Khách thể của tội cố ý gây thương tích, tức quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ mà tội này xâm phạm là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác.
Quyền này được ghi nhận tại Điều 20 Hiến pháp 2013 và được pháp luật hình sự bảo vệ thông qua Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đối tượng tác động của tội phạm là cơ thể người đang còn sống. Tài sản hoặc danh dự không phải là khách thể của tội này, do đó nếu hành vi chỉ làm hư hỏng tài sản thì không cấu thành tội cố ý gây thương tích.
1.2. Mặt khách quan
Về mặt khách quan, tức hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại tội này, là hành vi cố ý “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, dẫn đến hậu quả làm cho người bị gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Mặt khách quan bao gồm 3 dấu hiệu bắt buộc phải chứng minh:
- Hành vi: Là hành vi tác động vật lý trái phép lên thân thể người khác như đánh, đấm, đá, đâm, chém, tạt a-xít,… Không áp dụng với các trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết theo quy định của pháp luật.
- Hậu quả: Thể hiện qua tỷ lệ tổn thương cơ thể do giám định pháp y xác định. Hành vi gây thương tích dưới 11% sẽ không bị xử lý hình sự, trừ trường hợp có các tình tiết đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 134.
Mối quan hệ nhân quả: Phải chứng minh được hành vi của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thương tích của nạn nhân. Đây là dấu hiệu bắt buộc, không thể suy đoán hay suy diễn.

1.3. Chủ thể
Về mặt chủ thể, người phạm tội cố ý gây thương tích phải chịu trách nhiệm hình sự khi có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định:
- Về năng lực trách nhiệm hình sự: người không có năng lực trách nhiệm hình sự (người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình) thì không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Như vậy, người phạm tội này phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự
- Về độ tuổi: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Đối với tội cố ý gây thương tích, trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng đã phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (tức có khung hình phạt từ 07 năm tù trở lên), căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự.
1.4. Mặt chủ quan
Tội cố ý gây thương tích được thực hiện với lỗi cố ý. Khái niệm lỗi cố ý đã được quy định cụ thể tại Điều 10 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“Điều 10. Cố ý phạm tội
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”
Xem thêm bài viết: Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị phạt tù bao nhiêu năm?
2. Phân biệt tội cố ý gây thương tích và vô ý gây thương tích
Đây là một trong những câu hỏi phổ biến nhất khi xác định tội danh trong các vụ án gây thương tích. Sự khác biệt cốt lõi nằm ở yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi.
Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS): Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây thương tích cho người khác và hoặc là mong muốn hậu quả đó xảy ra (cố ý trực tiếp), hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra (cố ý gián tiếp). Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các vụ ẩu đả, xô xát.
Tội vô ý gây thương tích (Điều 138 BLHS): Người phạm tội không mong muốn gây thương tích, hậu quả xảy ra do thiếu thận trọng hoặc quá tự tin. Ví dụ: người lái xe không chú ý làm người đi đường ngã bị thương tích nặng.
| Tiêu chí | Cố ý gây thương tích | Vô ý gây thương tích |
| Điều luật | Điều 134 BLHS | Điều 138 BLHS |
| Yếu tố lỗi | Cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp | Vô ý do quá tự tin hoặc cẩu thả |
| Ý thức của người phạm tội | Biết sẽ gây thương tích, vẫn thực hiện | Không muốn gây thương tích, hậu quả ngoài mong muốn |
| Mức phạt tối đa | Tù chung thân | 03 năm tù |
| Ngưỡng tỷ lệ thương tích | Từ 11% (hoặc dưới 11% có tình tiết đặc biệt) | Từ 31% trở lên |
Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn vì mức hình phạt chênh lệch đáng kể. Trong thực tiễn xét xử, đây cũng là hướng bào chữa quan trọng mà luật sư thường sử dụng để chuyển tội danh từ cố ý sang vô ý nhằm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3. Phân tích cấu thành tội phạm trong vụ án cố ý gây thương tích
Để hiểu rõ hơn cách áp dụng 4 yếu tố cấu thành trong thực tiễn, dưới đây là phân tích vụ án cụ thể được ghi nhận tại Bản án số 11/2023/HS-PT ngày 10/02/2023 của TAND tỉnh Hưng Yên:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/7/2020, tại khu vực Quảng trường thuộc phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đỗ Văn H1 có hành vi dùng 01 chiếc chìa khóa, dạng chìa khóa xe máy, 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ, loại 04 chân không có tựa lưng, cao khoảng 25-30cm và dùng chân tay không đánh gây thương tích cho bà Trần Thị C; Hứa Thị T1 có hành vi hô hào, kích động và cùng Phạm Văn Đ, Vũ Mạnh Q, Nguyễn Đức T dùng tay, chân đánh bà Trần Thị C. Hậu quả làm bà C bị tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 50%.Bởi hành vi nêu trên, các bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
- Về mặt khách thể: hành vi của H1, T1, Đ, Q, T xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bà C, là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
- Về mặt khách quan: Đỗ Văn H1 có hành vi dùng chìa khóa, ghế nhựa và chân tay không đánh gây thương tích cho bà Trần Thị C. Hứa Thị T1 có hành vi hô hào, kích động và cùng Phạm Văn Đ, Vũ Mạnh Q, Nguyễn Đức T dùng tay, chân đánh bà Trần Thị C. Hậu quả trực tiếp của các hành vi này dẫn đến bà C bị tổn thương 50%. Đây là các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
- Về mặt chủ thể: H1, T1, Đ, Q, T đều có độ tuổi đủ để chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ
- Về mặt chủ quan: hành vi của H1, T1, Đ, Q, T được thực hiện với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Xem thêm: Mức xử phạt hành chính tội cố ý gây thương tích
4. Hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích
Thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác mà thuộc các trường hợp phạm tội quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự, người phạm tội sẽ phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khung hình phạt sau. Mức hình phạt tăng dần theo tỷ lệ tổn thương cơ thể, số lượng nạn nhân và tính chất nguy hiểm của hành vi:
Khung hình phạt | Hành vi phạm tội |
| Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. | Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; i) Có tính chất côn đồ; k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.ong các trường hợp sau đây |
| Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. | 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. |
| Khung 3: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. |
| Khung 4: Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm. | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Làm chết người; b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. |
| Khung 5: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Làm chết 02 người trở lên; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. |
| Hình phạt bổ sung: Ngoài ra, người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. | |

Tìm hiểu thêm: Tội cố ý gây thương tích có tổ chức có bị phạt tù không?
5. Trường hợp không đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích thì bị phạt bao nhiêu tiền?
Trong trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác còn có thể bị xử phạt hành chính từ 5 đến 8 triệu đồng, song song với đó là nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại (như viện phí, thuốc men,…) cho người bị thương tích theo quy định của pháp luật dân sự.
Theo quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP xử phạt hành chính lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì người phạm tội có thể bị “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Ngoài ra, người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, cụ thể tại Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
6. Luật sư tư vấn Hình sự
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
7. Câu hỏi thường gặp về cấu thành tội cố ý gây thương tích
Dưới đây là những câu hỏi phổ biến liên quan đến các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích. Luật A+ tổng hợp và giải đáp để quý khách nắm rõ các tình huống pháp lý thường gặp.
7.1. Tội cố ý gây thương tích có cần yếu tố “có chủ ý từ trước” không?
Không bắt buộc. Tội cố ý gây thương tích không yêu cầu người phạm tội phải có kế hoạch từ trước. Chỉ cần tại thời điểm thực hiện hành vi, người đó nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây thương tích và vẫn thực hiện (hoặc để mặc hậu quả xảy ra) thì đã đủ yếu tố lỗi cố ý. Nhiều vụ án phát sinh từ mâu thuẫn bộc phát tại chỗ vẫn bị xử lý theo Điều 134 vì người phạm tội có ý thức rõ ràng về hành vi của mình dù không có kế hoạch trước.
7.2. Hành vi đánh người không gây thương tích có cấu thành tội không?
Hành vi đánh người không để lại thương tích (tỷ lệ 0%) thông thường không đủ cấu thành tội cố ý gây thương tích vì thiếu yếu tố hậu quả bắt buộc. Tuy nhiên, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Trường hợp hành vi có mức độ nguy hiểm cao (dùng vũ khí, hành hung người già, trẻ em,…) nhưng may mắn không để lại thương tích, vẫn có thể bị xem xét truy cứu về tội cố ý gây thương tích ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.
7.3. Bị kích động dẫn đến đánh người có bị truy cứu tội cố ý gây thương tích không?
Có, nhưng mức hình phạt có thể được giảm nhẹ đáng kể. Nếu người phạm tội bị kích động bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân (ví dụ bị chửi bới, xúc phạm nặng nề dẫn đến mất kiểm soát), đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong trường hợp mức kích động đặc biệt nghiêm trọng dẫn đến trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, hành vi có thể được xử lý theo Điều 135 BLHS với mức phạt nhẹ hơn đáng kể.
7.4. Phòng vệ chính đáng có cấu thành tội cố ý gây thương tích không?
Không, nếu thỏa mãn điều kiện phòng vệ chính đáng theo Điều 22 BLHS. Người hành động để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác trước hành vi tấn công đang xảy ra, với mức độ chống trả không vượt quá mức cần thiết thì không phải chịu trách nhiệm hình sự dù có gây thương tích. Tuy nhiên nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì vẫn bị truy cứu theo Điều 136 BLHS với mức phạt nhẹ hơn Điều 134.
7.5. Chứng cứ nào quan trọng nhất để xác định cấu thành tội này?
Có hai loại chứng cứ quan trọng nhất. Thứ nhất là kết quả giám định pháp y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, vì đây là căn cứ trực tiếp để xác định có đủ ngưỡng cấu thành tội phạm (11%) hay không và áp dụng khung hình phạt nào. Thứ hai là chứng cứ về ý thức chủ quan của người phạm tội tại thời điểm gây thương tích, bao gồm lời khai của các bên, nhân chứng, camera an ninh, vị trí và tính chất vết thương. Đây là căn cứ để phân biệt hành vi cố ý hay vô ý, từ đó xác định tội danh và mức hình phạt phù hợp.
Như vậy, để một hành vi được xem là cấu thành tội cố ý gây thương tích, hành vi đó phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự và có đủ 04 dấu hiệu pháp lý đã nêu trong bài viết. Hi vọng những thông tin pháp luật trên về tội cố ý gây thương tích mà luật sư A+ vừa chia sẻ đã giúp cho quý khách hàng hiểu hơn về loại tội phạm này. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


