Giết người là hành vi tước đoạt đi mạng sống của người khác một cách trái phép. Tội phạm giết người trong bất kì xã hội nào cũng được xem là một tội phạm có mức độ nguy hiểm và gây thiệt hại cho xã hội cao. Sau đây, mời bạn đọc cùng phân tích chi tiết về những yếu tỗ cấu thành tội giết người cùng với Luật A+ nhé!
1. Tội giết người là gì? Các đặc điểm pháp lý cơ bản
Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Đây được xem là tội phạm có mức độ nguy hiểm đặc biệt cao, trực tiếp xâm phạm đến quyền được sống – quyền cơ bản nhất của con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Việc nhận diện đúng các dấu hiệu pháp lý của tội danh này không chỉ là nền tảng để áp dụng chế tài hình sự nghiêm minh mà còn là cơ sở để phân định ranh giới giữa các hành vi phạm tội có tính chất tương tự trong thực tiễn xét xử.
Các đặc điểm pháp lý cơ bản của tội giết người bao gồm tính trái pháp luật và hành vi tước đoạt tính mạng nạn nhân. Khác với các tội danh về xâm phạm sức khỏe thông thường, tội giết người được xác định dựa trên ý chí chủ quan muốn tước bỏ sự sống của nạn nhân, không phụ thuộc vào việc hậu quả chết người đã xảy ra hay chưa. Khi phân tích, cần chú trọng đến các tình tiết về hung khí, vị trí tấn công và cường độ hành vi để xác định tính “cố ý” trong ý thức người phạm tội, từ đó làm rõ cấu thành tội phạm theo đúng tinh thần của Điều 123 Bộ luật Hình sự.
2. Các yếu tố cấu thành tội giết người
Để xác định hành vi có phạm tội giết người hay không, cơ quan chức năng căn cứ vào sự hội tụ của 4 yếu tố cấu thành tội phạm bắt buộc. Dưới đây là phân tích chi tiết về mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể để quý độc giả có cái nhìn toàn diện nhất về tội danh này.
2.1. Yếu tố khách quan
Căn cứ theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, hành vi khách quan của Tội giết người là giết người. Việc giết người được thực hiện cụ thể ra sao thì hiện nay pháp luật không quy định. Các hành vi giết người cụ thể có thể được hiểu là tước đoạt tính mạng người khác, tấn công các vùng trọng yếu khiến nạn nhân đối mặt với nguy cơ tử vong cao, sử dụng hung khí nguy hiểm như mã tấu, phóng lợn, súng hoa cải, … để tấn công người khác. Một hành vi được xem như thế nào là người sẽ tùy thuộc vào mức độ, cường độ của hành vi khi tấn công nạn nhân hoặc vị trí mà người phạm tội tấn công người khác.

Hành vi giết người được thực hiện thông qua các hình thức như sau:
Thứ nhất, hành động hoặc không hành động.
- Hành động: người phạm tội chủ động thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, dùng gạch ném,… tác động vào thân thể nạn nhân nhằm tước bỏ tính mạng người đó;
- Không hành động: người phạm tội không thực hiện nghĩa vụ phải làm để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác nhằm giết người khác. Thông thường tội phạm được thực hiện bằng cách lợi dụng nghề nghiệp.
Thứ hai, có thể có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí.
- Không sử dụng vũ khí, hung khí: người phạm tội sử dụng sức mạnh cơ thể của mình tác động lên cơ thể của nạn nhân hoặc đẩy nạn nhân vào điều kiện không thể sống được như đấm, đá, bóp cổ,… hoặc dùng các thủ đoạn khác;
- Có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác: người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: Súng, lựu đạn, bom, mìn, dao, búa, gậy gộc,… hoặc các tác nhân gây chết khác như thuốc độc, giật điện, …
Thứ ba, thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực.
- Dùng vũ lực: người phạm tội sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động lên thân thể nạn nhân.Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức: trực tiếp dùng tay, chân để đánh đá, bóp cổ,…; thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: Dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn,…;
- Không dùng vũ lực nghĩa: người phạm tội dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện để nạn nhân vướng vào,…
Hậu quả của hành vi giết người là làm chấm dứt sự sống của người khác (nạn nhân chết). Tuy nhiên, chỉ cần người phạm tội đã thực hiện hành vi giết người với mục đích làm nạn nhân chết thì dù có hậu quả chết người hay không vẫn cấu thành tội giết người.
Trong trường hợp người phạm tội dùng vũ lực khiến nạn nhân lâm vào tình trạng nguy hiểm tính mạng dẫn đến tử vong (hậu quả gián tiếp), ví dụ như: đẩy nạn nhân xuống sông và bỏ mặc cho đến chết hoặc đạp nạn nhân ra ngoài đường khi có nhiều xe ôtô chạy dẫn đến bị xe cán chết… vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu chứng minh được người thực hiện hành vi đó có mục đích giết người.
Xem thêm: Dấu hiệu định tội của tội giết người
2.2. Yếu tố chủ quan
Lỗi của người phạm tội giết người có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật Hình sự thì:
- Lỗi cố ý trực tiếp giết người là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi giết người của mình là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện hành vi với mục đích cụ thể là tước đi mạng sống của nạn nhân.
- Lỗi cố ý gián tiếp giết người là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể làm nạn nhân chết, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết.
Ngoài ra, tội phạm này không yêu cầu người phạm tội phải có mục đích và động cơ phạm tội. Tuy nhiên, đối với hành vi giết người với một số động cơ như giết người để che giấu tội phạm khác, giết người vì động cơ đê hèn, giết người để lấy các bộ phận cơ thể, thì là các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2.3. Yếu tố khách thể
Căn cứ theo Chương XIV Bộ luật Hình sự, hành vi của người phạm tội giết người ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người, xâm phạm trực tiếp đến quyền được sống của người bị hại được pháp luật bảo vệ.
2.4. Yếu tố chủ thể
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, người phạm tội giết người có thể là bất cứ ai (công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch) từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi).
Lưu ý: nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thuộc vào trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Xem thêm: Lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người
3. Một số vấn đề cần lưu ý khi phân tích các yếu tố cấu thành Tội giết người
Trên thực tế, do hành vi giết người có điểm chung với nhiều hành vi phạm tội khác là tác động lên cơ thể người khác, gây ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, nên việc xác định sai cấu thành tội giết người có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với các tội, sai lầm về mức hình phạt được quy định cùng Chương XIV Bộ luật Hình sự:
- Về chủ thể: việc nhận định sai lầm về chủ thể có thể dẫn đến sự nhầm lẫn về quyết định hình phạt, hoặc nhầm lẫn giữa Tội giết người (Điều 123) với Tội giết con mới đẻ (Điều 124). Trong đó, trường hợp người mẹ, do ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu, mà giết con mình được sinh ra nhưng chưa đủ 7 ngày tuổi thì chịu trách nhiệm hình sự theo Tội giết con mới đẻ tại Điều 124 mà không phải Tội giết người theo Điều 123.
- Về khách thể: khách thể của Tội giết người là mạng sống con người, do đó, việc giết người phải là giết một người còn sống về mặt sinh học. Nghĩa là hành vi xâm phạm đối với bào thai, người máy, hoặc người đã chết về mặt sinh học, thì không được xem là phạm Tội giết người.
- Về mặt chủ quan: việc nhận định sai lầm về mặt chủ quan có thể gây ra sự nhầm lẫn giữa Tội giết người (Điều 123) và Tội vô ý làm chết người (Điều 128). Trong đó, ý thức chủ quan đối với Tội giết người là thực hiện hành vi với mục đích tước đoạt mạng sống của người khác, trong khi ý thức chủ quan trong Tội vô ý làm chết người là hoàn toàn không có mục đích tước đoạt mạng sống người khác, mà chỉ do cẩu thả hoặc quá tự tin mà thực hiện hành vi có hành động hoặc không hành động dẫn đến cái chết của người khác.
- Về mặt khách quan: hành vi được thực hiện phải thể hiện mong muốn tước đoạt mạng sống con người. Hành vi trong mặt khách quan cấu thành Tội giết người có thể nhầm lẫn với một số tội khác, như Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, được trình bày trong các mục 6, 7, 8 dưới đây.
Xem thêm: Đồng phạm giết người là thế nào?
4. Các trường hợp phạm tội chưa đạt và tình tiết tăng nặng
Trong thực tiễn xét xử, không phải mọi hành vi tước đoạt tính mạng đều dẫn đến hậu quả chết người. Việc xác định tội phạm ở giai đoạn “phạm tội chưa đạt” là căn cứ cốt lõi để cá thể hóa trách nhiệm hình sự theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. Theo đó, hành vi vẫn cấu thành tội giết người ở giai đoạn chưa đạt trong các trường hợp:
- Nạn nhân được cấp cứu kịp thời nên không tử vong.
- Hung thủ bị khống chế, ngăn cản trước khi thực hiện xong hành vi.
- Hành vi thực hiện bị sai lệch mục tiêu hoặc không đạt kết quả như ý muốn vì nguyên nhân khách quan.
Ở giai đoạn này, người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tuy nhiên mức hình phạt sẽ được Tòa án xem xét giảm nhẹ hơn so với tội phạm đã hoàn thành, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm thực tế của hành vi.
Bên cạnh đó, các tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 1 Điều 123 là yếu tố then chốt đẩy khung hình phạt của tội giết người lên mức rất cao (từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình). Những tình tiết này phản ánh mức độ nguy hiểm đặc biệt, bao gồm:
- Giết 02 người trở lên.
- Giết người dưới 16 tuổi.
- Giết phụ nữ mà biết là có thai.
- Giết người đang thi hành công vụ.
- Giết người vì động cơ đê hèn (như giết người để cướp tài sản, trả thù cá nhân bằng phương thức tàn độc).
Việc chứng minh chính xác các tình tiết tăng nặng này trong hồ sơ vụ án chính là yếu tố quyết định trực tiếp đến bản án và mức hình phạt cuối cùng mà người phạm tội phải gánh chịu.
5. So sánh yếu tố cấu thành Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích
Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích đều là các tội phạm nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật Hình sự. Cùng Luật A+ xem giữa hai tội này có những điểm giống và khác nhau như thế nào thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm sau đây:
| Yếu tố | Tội giết người (Điều 123 BLHS) | Tội cố ý gây thương tích cho người khác (Điều 134 BLHS) |
| Mặt khách quan | Hành vi nhằm tước đoạt mạng sống của người khác. Hậu quả thường dẫn đến cái chết của nạn nhân. | Hành vi nhằm gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Hậu quả là tổn thương cơ thể của nạn nhân. |
| Mặt chủ quan | Lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Mục đích là giết người. | Lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Mục đích là giết người. Mục đích là cố ý gây thương tích cho nạn nhân. |
| Chủ thể | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 14 tuổi trở lên.Trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người thì phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên. Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng (Khoản 3, 4) và đặc biệt nghiêm trọng (Khoản 5) của tội này. |
| Khách thể | Xâm phạm đến tính mạng, quyền sống của con người. | Xâm phạm đến sức khỏe, quyền được bảo vệ sức khỏe của con người. |
Qua bảng trên, có thể nhận thấy rằng hành vi giết người mang mục đích tước đoạt mạng sống của nạn nhân trong khi hành vi cố ý gây thương tích chỉ với mục đích làm tổn thương cơ thể, sức khỏe của nạn nhân.

6. So sánh yếu tố cấu thành Tội giết người với Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Một tội danh khác cũng có những dấu hiệu gần giống với Tội giết người thường dễ gây ra nhầm lẫn, đó là Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Cùng Luật A+ so sánh hai tội danh này qua bảng cấu thành tội phạm sau:
| Yếu tố | Tội giết người (Điều 123 BLHS) | Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS) |
| Mặt khách quan | Hành vi nhằm tước đoạt mạng sống của người khác. Hậu quả thường dẫn đến cái chết của nạn nhân. | Hành vi giết người nhưng trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Hậu quả là nạn nhân chết. |
| Mặt chủ quan | Ý thức tước đoạt mạng sống, có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. | Ý thức gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. |
| Chủ thể | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 14 tuổi trở lên. Trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người thì phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên. |
| Khách thể | Xâm phạm đến tính mạng, quyền sống của con người. | Xâm phạm đến tính mạng của người khác, nhưng có sự giảm nhẹ do trạng thái tinh thần của người phạm tội. |
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh yêu cầu hành vi giết người của người phạm tội phải được thực hiện ngay sau khi người bị hại có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng. Theo đó phải đáp ứng điều kiện về thời gian và về hành vi trái pháp luật nghiêm trọng thì mới cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thay vì cấu thành Tội giết người.
7. So sánh yếu tố cấu thành Tội giết người với Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Trường hợp phòng vệ nhưng lại vô tình giết chết người thì có phạm tội giết người không? Câu trả lời là không, khi này người đó sẽ phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Cùng Luật A+ giải thích lý do bằng việc so sánh hai tội phạm này dựa trên các yếu tố cấu thành tội phạm qua bảng dưới đây:
| Yếu tố | Tội giết người (Điều 123 BLHS) | Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 126 BLHS) |
| Mặt khách quan | Hành vi nhằm tước đoạt mạng sống của người khác. Hậu quả thường dẫn đến cái chết của nạn nhân. | Hành vi giết người nhưng trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Hậu quả là nạn nhân chết. |
| Mặt chủ quan | Ý thức tước đoạt mạng sống, có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. | Ý thức gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. |
| Chủ thể | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 14 tuổi trở lên.Trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người thì phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên. | Là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên. |
| Khách thể | Xâm phạm đến tính mạng, quyền sống của con người. | Xâm phạm đến tính mạng của người khác, nhưng có sự giảm nhẹ do trạng thái tinh thần của người phạm tội. |
Trong khi Tội giết người không có điểm đặc thù về mặt khách quan của hành vi giết người thì Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng yêu cầu chủ thể phạm tội này phải có quyền phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Hình sự. Để được xem là phòng vệ chính đáng thì chủ thể phải đáp ứng (1) có động cơ vì bảo vệ lợi ích của mình, cá nhân, tổ chức khác, hoặc Nhà nước và (2) chống trả lại một cách cần thiết người có hành vi xâm phạm lợi ích nói trên.
8. Hành vi che giấu tội phạm giết người có được xem là đồng phạm và cấu thành được tội giết người không?
Hành vi che giấu tội phạm giết người không được xem là đồng phạm và không cấu thành tội giết người.
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, đồng phạm là khi có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Trong trường hợp tội giết người, những người đồng phạm là những người trực tiếp tham gia vào việc lên kế hoạch, hỗ trợ hoặc thực hiện hành vi giết người.
Tuy nhiên hành vi che giấu tội phạm là hành vi của người không tham gia vào quá trình giết người mà chỉ thực hiện hành vi che giấu, không khai báo hoặc giúp đỡ tội phạm sau khi vụ án giết người đã xảy ra. Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội che giấu tội phạm theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Anh A giết người và nhờ anh B giúp đỡ che giấu xác nạn nhân. Mặc dù anh B biết rõ hành vi giết người của anh A, nhưng không tham gia vào việc giết người, chỉ giúp che giấu sau khi tội phạm đã xảy ra. Anh B không bị coi là đồng phạm trong tội giết người, nhưng anh B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm.
9. Luật sư tư vấn Tội giết người
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
10. Câu hỏi thường gặp về cấu thành tội giết người
Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các tình huống pháp lý đặc thù và giải đáp những băn khoăn phổ biến xoay quanh tội danh này, dưới đây là phần giải đáp chi tiết cho những câu hỏi thường gặp nhất liên quan đến cấu thành tội giết người:
10.1. Người phạm tội có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?
Việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thường được Tòa án xem xét khi người phạm tội có các tình tiết như tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoặc đã tích cực bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả. Ngoài ra, nếu hành vi phạm tội có các yếu tố giảm nhẹ đặc biệt như phạm tội do bị kích động về tinh thần, hoặc nạn nhân cũng có một phần lỗi trong sự việc, thì Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng các Điều 51, 54 Bộ luật Hình sự để quyết định một mức án thấp hơn khung hình phạt quy định, nhằm đảm bảo tính nhân đạo và công bằng pháp luật.
10.2. Tội giết người có áp dụng án treo không?
Theo quy định pháp luật hiện hành và tinh thần của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, tội giết người thuộc nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên hầu như không thể được hưởng án treo. Án treo chỉ được áp dụng cho các tội phạm có mức hình phạt tù không quá 03 năm, trong khi tội giết người (Điều 123) có khung hình phạt tối thiểu lên đến 12 năm tù. Do đó, người phạm tội giết người chắc chắn phải chấp hành hình phạt tù giam, vì mức độ nguy hiểm của hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền sống con người, không thỏa mãn điều kiện hưởng án treo theo quy định.
10.3. Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khác tội giết người thế nào?
Sự khác biệt cốt lõi nằm ở yếu tố “tinh thần bị kích động mạnh” do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, khiến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội bị suy giảm tạm thời. Trong khi tội giết người (Điều 123) đòi hỏi lỗi cố ý thực hiện hành vi với ý chí chủ động, thì tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125) mang tính chất phản ứng bột phát, không có sự chuẩn bị từ trước. Chính vì sự khác biệt về tâm lý và quá trình hình thành ý chí này mà mức hình phạt cho tội danh tại Điều 125 thường nhẹ hơn rất nhiều so với tội giết người thông thường.
10.4. Thế nào là “động cơ đê hèn” trong tội giết người?
Động cơ đê hèn là tình tiết tăng nặng định khung, thể hiện bản chất độc ác, thấp kém hoặc vô ơn của người phạm tội khi thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác. Các biểu hiện cụ thể thường bao gồm giết người để chiếm đoạt tài sản, giết người để che giấu một tội phạm khác, giết người trả thù cá nhân bằng cách tàn độc (như trả thù người đã giúp đỡ mình), hoặc giết người để đạt được mục đích ích kỷ cá nhân. Việc xác định tình tiết này là căn cứ quan trọng để Tòa án áp dụng khung hình phạt cao nhất, vì nó phản ánh sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng của kẻ thủ ác đối với cộng đồng.
10.5. Nếu nạn nhân tự tử do bị xúi giục, người xúi giục có phạm tội giết người không?
Người xúi giục nạn nhân tự tử thường không cấu thành tội giết người mà bị truy cứu theo tội danh “xúi giục người khác tự sát” quy định tại Điều 131 Bộ luật Hình sự. Để cấu thành tội giết người, đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp tước đoạt tính mạng người khác thông qua các thao tác vật lý, còn việc xúi giục chỉ dừng lại ở hành vi tác động vào tâm lý khiến nạn nhân tự định đoạt tính mạng mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu người xúi giục đồng thời có các hành vi hỗ trợ vật chất (như cung cấp hung khí, chất độc), vụ việc có thể bị xem xét chuyển hướng điều tra sang tội giết người tùy vào vai trò đồng phạm.
Để nhận biết cấu thành tội giết người, có thể xác định qua 04 yếu tố là chủ thể, mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan của tội phạm. Do tội giết người là một tội phạm tương đối phức tạp nên cần chú ý phân biệt tội giết người với các tội phạm có liên quan. Ngoài ra, cần lưu ý là không được bao che cho người phạm tội giết người ngay cả khi là người nhà để tránh phải vướng vào vòng lao lý. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
- Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


