Home » Hình sự » Nghị quyết hướng dẫn giải quyết tội cố ý gây thương tích?

Nghị quyết hướng dẫn giải quyết tội cố ý gây thương tích?

Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP là 02 nghị quyết đang được áp dụng để hướng dẫn giải quyết tội cố ý gây thương tích. Cùng Luật A+ tìm hiểu ngay nội dung của 02 nghị quyết trên thông qua bài viết sau. 

1. Nghị quyết nào hiện đang được áp dụng để hướng dẫn xử lý tội cố ý gây thương tích?

Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 đến Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), tuy nhiên một số tình tiết trong các điều luật này chưa được giải thích cụ thể. Để thống nhất áp dụng pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các nghị quyết hướng dẫn. Dưới đây là thông tin về hiệu lực và nội dung của các nghị quyết hiện đang được tham chiếu.

1.1. Hiệu lực pháp lý của Nghị quyết 

Hiện tại chỉ có 02 Nghị quyết hướng dẫn về các tội cố ý gây thương tích là Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Tuy nhiên xét về hiệu lực theo pháp luật thì cả 02 văn bản quy phạm trên đều đã hết hiệu lực. Bởi lẽ vào ngày 08/10/2021 Toà án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 355/QĐ-TANDTC về việc công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực trong đó có 02 nghị quyết này.

Dù vậy, do chưa có văn bản hướng dẫn nào thay thế cho Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP nên khi giải quyết vụ việc về Tội cố ý gây thương tích chúng ta vẫn có thể trên tinh thần của 02 nghị quyết này để giải quyết vụ việc. 

nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích 01
Hiện nay, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP dù đã hết hiệu lực nhưng vẫn đang được áp dụng.

Xem thêm bài viết: Tội cố ý gây thương tích nhẹ bị phạt thế nào?

1.2. Nội dung của Nghị quyết

Các nghị quyết trên chủ yếu hướng dẫn về các tình tiết về tội cố ý gây thương tích chưa được giải thích rõ trong Bộ luật Hình sự, bao gồm các tình tiết sau: 

a) Tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”

Là trường hợp cố ý gây thương tích; hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên hoặc của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) và trong các lần đó chưa có lần nào bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

b) Tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình”

Tình tiết này được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện sau:

  • Nạn nhân phải là thầy giáo, cô giáo, tức là người đã hoặc đang làm công tác giảng dạy theo biên chế hoặc theo hợp đồng tại cơ quan, tổ chức có chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
  • Hành vi gây thương tích phải xuất phát từ lý do thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, dạy nghề của nạn nhân đối với bị cáo, không phân biệt nhiệm vụ đó đã được thực hiện hay đang được thực hiện và không kể thời gian dài hay ngắn.
  • Tỷ lệ thương tật của nạn nhân phải tương ứng với khung hình phạt đang xem xét áp dụng: dưới 11% (áp dụng khoản 1 Điều 134), từ 11% đến 30% (áp dụng khoản 2), từ 31% đến 60% (áp dụng khoản 3).

Xem thêm: Bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án cố ý gây thương tích có giúp hung thủ có thoát án không?

c) Tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”

“Vũ khí” là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).

“Phương tiện nguy hiểm” là công cụ; dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên; mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

  • Về công cụ, dụng cụ: Ví dụ như là búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…
  • Về vật mà người phạm tội chế tạo ra: Ví dụ như là thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…
  • Về vật có sẵn trong tự nhiên: Ví dụ như là gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…
nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích 02
Lựu đạn được xem là “hung khí nguy hiểm”.

2. Một số tội phạm về cố ý gây thương tích thường gặp

Cố ý gây thương tích là hành vi tác động vật lý vào thân thể người khác như đánh, đập,… dẫn đến việc nạn nhân bị ảnh hưởng về sức khỏe dưới dạng thương tích. Một số tội phạm về cố ý gây thương tích thường gặp bao gồm:

2.1. Tội cố ý gây thương tích cho người khác

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trường hợp phạm tội phổ biến nhất về hành vi cố ý gây thương tích. Tội phạm này được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự như sau: 

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Tìm hiểu thêm: Tội cố ý gây thương tích cho trẻ em bị phạt thế nào?

2.2. Tội cố ý gây thương tích cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Đây là trường hợp đặc biệt của tội cố ý gây thương tích. Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được xem xét là tình tiết giảm nhẹ và quy về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự như sau: 

“Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.”

nghị quyết hướng dẫn tội cố ý gây thương tích 03
Ảnh minh họa hành vi cố ý gây thương tích khi đang bị kích động do thấy vợ ngoại tình.

2.3. Tội cố ý gây thương tích người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Đây là một trường hợp đặc biệt khác về hành vi cố ý gây thương tích được quy định tại Bộ luật Hình sự. Cụ thể, tại Điều 136 Bộ luật Hình sự quy định về trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội như sau:

“Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”

3. Luật sư tư vấn Hình sự

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

4. Các câu hỏi thường gặp

Dưới đây là tổng hợp các câu hỏi thường gặp nhất liên quan đến nghị quyết hướng dẫn và các tội phạm về cố ý gây thương tích, được Luật sư A+ giải đáp dựa trên quy định pháp luật hiện hành.

4.1. Nghị quyết 02/2003 và 01/2006 đã hết hiệu lực thì có còn được áp dụng không?

Về mặt pháp lý, hai nghị quyết này đã hết hiệu lực theo Quyết định số 355/QĐ-TANDTC ngày 08/10/2021. Tuy nhiên vì hiện chưa có văn bản hướng dẫn nào thay thế, các cơ quan tố tụng và tòa án vẫn có thể tham chiếu tinh thần của hai nghị quyết này khi giải quyết vụ việc, đặc biệt là để xác định các tình tiết đặc thù như “hung khí nguy hiểm”, “phạm tội nhiều lần” hay điều kiện áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình”.

4.2. “Hung khí nguy hiểm” theo nghị quyết bao gồm những gì?

Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2003, hung khí nguy hiểm bao gồm vũ khí theo quy định pháp luật và các phương tiện nguy hiểm khác. Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ chế tạo phục vụ cuộc sống (như búa đinh, dao phay), vật do người phạm tội chế tạo để phạm tội (như thanh sắt mài nhọn, côn gỗ) hoặc vật có sẵn trong tự nhiên (như gạch, đá, đoạn gậy cứng), với điều kiện nếu dùng để tấn công người thì có thể gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của nạn nhân.

4.3. Gây thương tích trong lúc bị kích động có được giảm nhẹ hình phạt không?

Có, nhưng phải đáp ứng đủ điều kiện của Điều 135 BLHS. Người phạm tội phải ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân đối với bản thân hoặc người thân thích của họ. Không phải mọi trường hợp bị kích động đều được áp dụng điều luật này, bởi mức độ kích động phải đạt đến mức “mạnh” theo đánh giá của cơ quan tố tụng, và hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải ở mức nghiêm trọng.

4.4. Phòng vệ chính đáng khác với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng như thế nào?

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm. Người phòng vệ chính đáng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là khi hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công. Trong trường hợp này người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được xử lý theo Điều 136 BLHS với mức hình phạt nhẹ hơn đáng kể so với Điều 134.

Như vậy, hiện nay có 02 nghị quyết đang được áp dụng để hướng dẫn giải quyết tội cố ý gây thương tích là Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.

 

Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.

Các bài viết cùng lĩnh vực