Home » Hình sự » 08 bản án, ví dụ thực tế về án treo hay nhất năm 2026

Nội dung

Tin liên quan

08 bản án, ví dụ thực tế về án treo hay nhất năm 2026

Bài viết này, Luật A+ đã tổng hợp 08 bản án, ví dụ thực tế về án treo từ các vụ án hình sự có thật, đã được Tòa án tuyên xử giúp bạn nắm rõ cách áp dụng án treo trong thực tiễn và hiểu rõ các tình tiết có thể làm thay đổi quyết định của Hội đồng xét xử.

1. Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của  huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

1.1. Tóm tắt bản án:

Do quen biết nhau, khoảng 07 giờ 00 phút ngày 13/9/2019 tại thôn Thu Quế, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thế T đã hỏi mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 29Y5-102.09, trị giá 17.500.000 đồng và giấy tờ xe của anh Nguyễn Văn D để sử dụng. Sau đó, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Tùng đã mang chiếc xe trên đến cửa hàng dịch vụ ký gửi Văn Thành (địa chỉ số 12, ngõ 259, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) cầm cố trong thời hạn 10 ngày cho anh Ngô Văn T để lấy số tiền 13.000.000 đồng. Hết thời hạn hợp đồng, anh Thành đã bán chiếc xe cho người khác nên không thu giữ được xe. Số tiền cầm cố xe, Tùng chi tiêu cá nhân hết và bỏ trốn. Đến ngày 27/8/2024,Tùng đến cơ quan Công an huyện Đan Phượng trình diện và khai báo về hành vi của mình.

1.2. Nhận định của Tòa án:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã bồi thường dân sự và tại phiên tòa bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có địa chỉ cư trú rõ ràng, mặt khác bị cáo hiện đang phải điều trị bệnh tan máu bẩm sinh nên tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ để bị cáo sửa chữa sai phạm, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

1.3. Quyết định của Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thế T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

ví dụ về án treo 01
Mượn xe người khác đi cầm đồ nhưng được hưởng án treo do có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đã bồi thường thiệt hại.

2. Bản án số 127/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TAND tỉnh Cà Mau

2.1. Tóm tắt vụ án:

Đặng Tú L có 01 tiền sự chưa được xóa về hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, vào ngày 03/4/2024, tại phòng trọ số 05, khu nhà trọ của ông Đặng Trọng T2, thuộc khóm G, phường H, thành phố C, bị cáo có hành vi đánh bài tú lơ khơ ăn tiền cùng với Nguyễn Lệ H và Phan Thị E. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bị Công an phường H bắt quả tang. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 580.000 đồng. Trong đó, phần tiền của bị cáo L dùng để đánh bạc là 160.000 đồng.

2.2. Nhận định của Tòa án:

Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Đối với các đối tượng còn lại tham gia đánh bạc chưa đủ định lượng, Công an phường H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đánh bạc là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.

Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 3 tháng tù (mức hình phạt dưới khung) là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn: chồng chạy xe ôm, bị cáo nội trợ và đang nuôi con sinh ngày 27/6/2019 bị bệnh rối loạn phổ tự kỷ (có cung cấp giấy khám sức khỏe số 54/GKSK-BVSN ngày 16/4/2024 của Bệnh viện S). Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này không làm thay đổi mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định.

2.3. Quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Tú L về việc xin hưởng án treo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 163/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần hình phạt.
  2. Xử phạt bị cáo Đặng Tú L 03 (ba) tháng tù) về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội 

3.1. Tóm tắt vụ án:

Do cần tiền tiêu dùng cá nhân, Nguyễn Hoàng P đã nảy sinh ý định giả vờ muốn làm nội thất để tiếp cận và chiếm đoạt điện thoại của anh Nguyễn Khắc H. Cụ thể, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/06/2024, tại quán kem Mixue ở xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng, Hà Nội, Nguyễn Hoàng P đã chiếm đoạt một chiếc điện thoại di động iPhone 12 Pro Max màu xám, dung lượng 256GB, trị giá 8.800.000 đồng của anh Nguyễn Khắc H. Sau khi chiếm đoạt điện thoại, Phương đã bỏ trốn. Ngày 09/06/2024, Nguyễn Hoàng P nhờ anh Nguyễn Lương P trả lại điện thoại cho anh Huấn (có lẽ đây là nhầm lẫn, nên là anh H mới đúng). Ngày 12/06/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng P đến Công an xã Thọ Xuân đầu thú.

3.2. Nhận định của Tòa án:

Hành vi của Nguyễn Hoàng P đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ Luật Hình sự,vì vậy Bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo nhờ anh Nguyễn Lương P đem trả chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Khắc H để khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội, bị cáo đến Công an xã Thọ Xuân đầu thú. Đây cũng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

3.3. Quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, HĐXX quyết định xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng P 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

luật sư hình sự 01
Gọi ngay luật sư A+ để được hỗ trợ và tư vấn kịp thời.

Bạn hoặc người thân đang vướng án hình sự? Hãy gọi gấp cho Luật sư để nhận được tư vấn phương án giải quyết kịp thời.

Tư vấn hoàn toàn miễn phí sau đó mới báo phí thuê luật sư để bạn dễ dàng quyết định!

4. Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 

4.1 Tóm tắt vụ án:

Bị cáo Hoàng Văn T là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã KĐ và là chủ tài khoản từ tháng 3/2020 đến tháng 12/2021 đã thiếu trách nhiệm, không kiểm tra, đôn đốc dẫn đến Hoàng Thị H là kế toán của Ủy ban nhân dân xã đã lợi dụng sơ hở tự ý ký duyệt chi 13 chứng từ lập khống gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước với tổng số tiền 208.902.000 đồng, bị xét xử về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

4.2. Nhận định của Tòa án:

Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm nhận định Hành vi của Hoàng Văn T mặc dù là lỗi vô ý nhưng cũng đã gây hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào chế độ; gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng đến tài sản của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi của việc phạm tội còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt mới tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra.

Tòa án đã xem xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Hoàng Văn T còn có nhiều thành tích xuất sắc được khen thưởng trong quá trình công tác; bản thân nhận thức được trách nhiệm bản thân nên đã tự nguyện nộp 50.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. 

Vì vậy, Hội đồng xét xử đã nhận định Bị cáo Hoàng Văn T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết  giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú cũng đủ để bị cáo nhận thức được hành vi của mình và răn đe những người có ý định phạm tội tương tự.

4.3. Quyết định của Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra, bị cáo Hoàng Văn T còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc quản lý tài chính trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong thời gian thử thách.

5. Bản án số: 19/2024/HS-ST ngày 28/03/2024 của  huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

5.1. Tóm tắt bản án:

Nhằm mục đích thu lợi bất chính, từ 15 giờ đến 17 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, Đỗ Thị H đã bán các số đề cho Kiều Trung K với số tiền là 240.000 đồng và một số người khác với tổng số tiền 5.984.000 đồng (Năm triệu, chín trăm tám mươi tư nghìn đồng) thì bị Công an xã Tân Lập, huyện Đan Phượng phát hiện thu giữ số tiền trên và các vật chứng khác. Số tiền bán lô, đề Hương không chuyển cho ai mà trực tiếp sổ kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày rồi tính thắng, thua với người mua vào ngày hôm sau nhưng chưa kịp thanh toán thì bị Công an bắt nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về hành vi đánh bạc với số tiền là 5.984.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

5.2. Nhận định của Tòa án:

Khi Quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ để giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

5.3. Quyết định của Tòa án:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 09 (Chín) tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

ví dụ về án treo 04
Bị cáo trong vụ bán lô đề tại Hà Nội có đủ điều kiện nên được hưởng án treo 18 tháng.

6. Bản án số 162/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh 

6.1. Tóm tắt vụ án:

Do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Phúc H nảy sinh ý định tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 12 giờ ngày 21/02/2023, H đi xung quanh khu vực hành lang Thư viện lầu 3, Trường Cao đẳng K, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện anh M Huỳnh Đ đang nằm ngủ trưa, trong túi quần của anh Đ có để 01 điện thoại hiệu Iphone 11, loại 64Gb, màu trắng. Lợi dụng lúc anh Đ sơ hở, H lén lút dùng tay phải lấy trộm điện thoại của Đ, bỏ vào túi quần phía bên phải của H, rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Sau đó, H bán tài sản vừa chiếm đoạt cho người mua (chưa rõ lai lịch) thông qua mạng xã hội với giá 1.200.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 06/6/2023, Nguyễn Phúc H đến Công an đầu thú. Theo Kết luận định giá tài sản, điện thoại có trị giá 6.250.000 đồng.

6.2. Nhận định của Tòa án:

Hội đồng xét xử đã nhận định hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm gây mất trật tự cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân và gây mất an ninh trật tự-an toàn xã hội. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt; có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo hiện đang là sinh viên Trường Cao đẳng K; bị cáo tự nguyện đầu thú xuất phát từ sự động viên và môi trường giáo dục tốt của gia đình do đó có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 mà cần cho bị cáo được hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, học tập trở thành công dân có ích cho xã hội.

6.3. Quyết định của Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án.

7. Bản án số 61/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của  huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 

7.1. Tóm tắt nội dung vụ án:

Khoảng 13 giờ ngày 21/7/2022, Cao Xuân L, Lê Thanh Ph, Lê Thị D, Đặng Xuân H, Đặng Xuân Đ, Phạm Ngọc S, Trần Viết T đánh bạc tại nhà của Lê Thị D với hình thức đánh liêng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị Lực lượng Công an huyện Nghĩa Đàn phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu xanh và số tiền 8.250.000 đồng.

7.2. Nhận định của Tòa án:

Có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Th, L, H, Đ, S, T và D phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét vai trò của từng bị cáo cho thấy: Đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm giản đơn, bị cáo Th là người khởi xướng, sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo D là chủ nhà, bị cáo S tham gia tích cực, bị cáo T có nhiều nhân thân xấu và sử dụng số tiền đánh bạc tương đối nhiều hơn so với các bị cáo khác trong vụ án nên phải chịu trách nhiệm sau bị cáo Th, tiếp đến là các bị cáo Đ và H và chịu trách nhiệm sau cùng trong vụ án là bị cáo L.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Các bị cáo Th, S, D và L phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo Lê Thanh Th ở mức án treo, phạt cải tạo không giam giữ và phạt tiền là đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

7.3. Quyết định của Tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Th, L, H, Đ, S, T và D phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Th 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt các bị cáo D, S, T 18 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt các bị cáo H, Đ 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày cơ quan được giao quản lý nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Xử phạt bị cáo L 20.000.000 đồng.

Bản án còn quy định về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và án phí.

ví dụ về án treo 03
Đánh bạc lần đầu với số tiền nhỏ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được xét hưởng án treo.

8. Bản án số 102/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của TAND quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng 

8.1. Tóm tắt nội dung vụ án:

Khoảng 18h00 ngày 25/7/2022 Võ Mỹ P cùng một số đối tượng khác dùng bàn ghế nhựa có sẵn trước nhà ông L số 04 An T 14 thuộc tổ 35, Phường T, quận S, Thành phố Đà Nẵng để chơi cờ cá ngựa thắng thua bằng tiền. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ tuần tra 9384 Công an phường T kiểm tra hành chính bắt quả tang cùng vật chứng là bộ cờ cá ngựa và 440.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo Võ Thị P và các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 625.000 đồng. Mặc dù số tiền đánh bạc của bị cáo dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo P có 01 tiền án về tội đánh bạc tại Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 20/01/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội. 

8.2. Nhận định của Tòa án:

Bị cáo P cùng các đối tượng cùng đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 625.000 đồng. Mặc dù số tiền đánh bạc của bị cáo dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo P có 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo.

8.3. Quyết định của Tòa án: 

Tuyên bố bị cáo P phạm tội Đánh bạc. Xử phạt bị cáo P 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo P số tiền 35.000.000 đồng.

Bản án còn quy định về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và án phí.

9. Luật sư tư vấn xin hưởng Án treo

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng về các vấn đề Hình sự, đặc biệt là xin hưởng án treo, bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá hồ sơ và tình tiết vụ án để xem xét điều kiện xin Án treo.
  • Hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các yếu tố cần thiết để đủ điều kiện hưởng Án treo.
  • Soạn thảo đơn xin Án treo và các tài liệu liên quan theo quy định.
  • Đại diện khách hàng làm việc với cơ quan chức năng, bào chữa tại Tòa án để xin hưởng án treo. 
  • Tư vấn các biện pháp khắc phục hậu quả, cải tạo tốt để tăng cơ hội được chấp thuận xin hưởng án treo. 

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

Trên đây là 8 ví dụ thực tế về án treo được tóm tắt từ các vụ án có thật trên thực tế. Luật sư A+ đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc xin xét hưởng án treo. Nếu bạn cần luật sư tư vấn xin hưởng án treo, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.

Nội dung