Home » Hình sự » Các bản án về Tội cưỡng đoạt tài sản từ năm 2019 đến 2023

Nội dung

Tin liên quan

Các bản án về Tội cưỡng đoạt tài sản từ năm 2019 đến 2023

Tội cưỡng đoạt tài sản là tội phạm thường xuyên xảy ra trong cuộc sống. Các bản án dưới đây chính là những ví dụ về tội cưỡng đoạt tài sản mà Luật A+ muốn chia sẻ đến bạn đọc. Cùng Luật A+ xem ngay các bản án sau để hiểu rõ hơn về tội phạm này nhé!

1. Ví dụ 1: Bản án về tội cưỡng đoạt tài sản số 164/2023/HS-PT ngày 29/09/2023

1.1. Nội dung vụ án:

Phạm Thị Tuyết M cho Trần Giang Th vay 60.000.000 đồng, do Th không trả nợ đúng hạn nên M cùng với Trương Thanh T, Dương Minh H, C, S đến nhà Th. Tại nhà Th, M gặp H là con Th, sau khi H nói vẫn chưa có tiền trả thi T đánh H, H sợ nên đề nghị cầm xe của mình để trả tiền, sau đó, T chở anh H ngồi giữa và S ngồi sau đi thế chấp xe được 5.000.000 đồng.

ví dụ tội cưỡng đoạt tài sản 05
Ép người khác phải thế chấp xe để trả nợ là hành vi cưỡng đoạt tài sản.

1.2. Nhận định của Tòa:

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật, thể hiện sự xem thường, bất chấp kỷ cương pháp luật, làm mất an ninh trật tự ở địa phương và gây hoang nang lo lắng đối với mọi người.

1.3. Quyết định của Tòa:

  • Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết M 09 (chín) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 10/11/2022 đến ngày 03/01/2023.
  • Xử phạt bị cáo Trương Thanh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
  • Xử phạt bị cáo Dương Minh H 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

1.4. Căn cứ pháp lý:

Căn cứ khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Ví dụ 2: Bản án 81/2022/HS-PT ngày 13/05/2022 về tội cưỡng đoạt tài sản

2.1. Nội dung vụ án:

Bực tức vì Công ty cổ phần xây dựng cơ điện Việt Nam không thanh toán tiền nợ, nên bị cáo Trần Quốc C đã dùng tay chỉ vào mặt anh Lương Văn K, chửi thề, nói lớn tiếng, đe dọa nhằm uy hiếp tinh thần anh Lương Văn K, anh Trần Quốc I là nhân viên của Công ty cổ phần xây dựng cơ điện Việt Nam để bị cáo Lê T chiếm đoạt 05 laptop và 01 camera là tài sản của Công ty cổ phần xây dựng cơ điện Việt Nam, nhằm gây sức ép cho Công ty cổ phần xây dựng cơ điện Việt Nam buộc trả nợ, tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 15.950.000 đồng.

2.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện giao nộp lại tài sản chiếm đoạt để trả lại cho bị hại, bồi thường thiệt khắc phục hậu quả với số tiền là 20.000.000đ. Ngoài ra, trong vụ án này xét thấy bị hại cũng có một phần lỗi vì sau khi bị cáo T thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký kết, bị cáo T đã làm hồ sơ đề nghị thanh toán tiền nhưng bị hại đưa ra nhiều lý do để không thanh toán tiền theo hợp đồng, gây tâm lý bức xúc cho bị cáo T.

2.3. Quyết định của Tòa:

Xử phạt bị cáo Lê T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và xử phạt bị cáo Trần Quốc C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

2.4. Căn cứ pháp lý:

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự

3. Ví dụ 3: Bản án 34/2022/HS-PT ngày 21/03/2022 về tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản 

3.1. Nội dung vụ án:

Lê Ngọc D, Nguyễn Minh S và Nguyễn Duy N hẹn nhau chặn xe lấy tiền người khác, lần thứ nhất chặn đường lấy điện thoại ông N, lần thứ hai đòi tiền ông Q nhưng ông này không đưa nên dẫn đến xô xát khiến ông Q ngã chảy máu đầu, sau đó D cầm gậy sắt 3 khúc đuổi theo ông Q, cuối cùng cưỡng đoạt của ông Q 70.000 đồng, sau đó D đang giằng co với ông Q thì N kéo áo D rời đi.

3.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi của các bị cáo Lê Ngọc D, Nguyễn Minh S và Nguyễn Duy N là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

3.3. Quyết định của Tòa:

  • Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 08 (Tám) năm tù. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc D 02 (Hai) năm tù.
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 07 (Bảy) năm tù. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù.

3.4. Căn cứ pháp lý:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, và căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

ví dụ tội cưỡng đoạt tài sản 02
Vụ án chặn xe người khác để cưỡng đoạt tài sản.

4. Ví dụ 4: Bản án về tội cưỡng đoạt tài sản số 06/2022/HS-ST NGÀY 08/03/2022

4.1. Nội dung vụ án:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25-02-2018, bị cáo Văn P Đ đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực như hù dọa đập phá và tạt axit đối với vợ chồng ông Nguyễn T N để yêu cầu đưa 1.000.0000 đồng nhưng vợ chồng ông N không có tiền, bị cáo đã lấy 02 con gà trống có giá trị là 460.000 đồng nên hành vi của bị cáo Văn P Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đối với bị cáo Trần V C đã có hành vi cầm khúc gỗ đứng gần bị cáo Đ để hỗ trợ về mặt tinh thần, ngoài ra khi vợ chồng ông N nói không có tiền thì bị cáo C đã nói “đưa hai, ba trăm ngàn cũng được”, như vậy bị cáo C đã thống nhất ý chí chiếm đoạt tài sản của bị cáo Đ, sau khi bị cáo Đ lấy 02 con gà đưa cho bị cáo C thì bị cáo C đã cầm mang ra xe, như vậy các hành vị của bị cáo Trần V C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” với vai trò đồng phạm giúp sức.

4.2. Nhận định của Tòa: 

Hành vi của bị cáo Văn P Đ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người trực tiếp đe dọa dùng vũ lực và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, có thể thấy bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo Văn P Đ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

4.3. Quyết định của Tòa:

Xử phạt bị cáo Văn P Đ 07 (bảy) tháng tù

4.4. Căn cứ pháp lý:

Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

5. Ví dụ 5: Bản án 08/2022/HS-ST ngày 02/03/2022 về tội cưỡng đoạt tài sản

5.1. Nội dung vụ án:

Trong các ngày 01 và 02/8/2021 bị cáo Nguyễn Văn H đã sử dụng những nội dung tin nhắn trước đó giữa bị cáo và bị hại trao đổi về việc bị hại có nhu cầu bán dâm để uy hiếp tinh thần của bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại, chiếm đoạt của bị hại số tiền 800.000 đồng.

5.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

5.3. Quyết định của Tòa:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản

5.4. Căn cứ pháp lý:

Khoản 1 Điều 170; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

6. Ví dụ 6: Bản án 188/2021/HS-ST ngày 24/11/2021 về tội cưỡng đoạt tài sản

6.1. Nội dung vụ án: 

Từ tháng 3/2021 đến ngày 05/5/2021, tại Thôn x, xã  Việt T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; anh Nguyễn Văn H có vay và nợ bị cáo Nguyễn Mạnh H số tiền 105.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn S có vay và nợ bị cáo Nguyễn Mạnh H số tiền 120.000.000 đồng. Do đòi tiền vay nhiều lần anh H, anh S không trả nên bị cáo Nguyễn Mạnh H đã nhờ bị cáo Nguyễn Tiến P, bị cáo Giáp Văn H đòi tiền hộ và có hành vi đe doạ, dùng vũ lực uy hiếp tinh thần buộc anh H phải trả cho H số tiền 105.000.000 đồng, buộc anh S phải trả cho H số tiền 120.000.000 đồng, thông qua hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook để đăng các nội dung đe dọa người vay tiền, mở nhạc đám ma, đánh người vay tiền nhằm gây áp lực đến gia đình anh S và anh H.

ví dụ tội cưỡng đoạt tài sản 03
Sử dụng Facebook để đăng các nội dung đe dọa người vay tiền.

6.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền của công dân được pháp luật bảo vệ, mặt khác còn gây mất trật tự an ninh tại địa P. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

6.3. Quyết định của Tòa:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 07 (bẩy) năm tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2021. Xử phạt bị cáo Giáp Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/6/2021.

6.4. Căn cứ pháp lý:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến P;

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giáp Văn H;

7. Ví dụ 7: Bản án 26/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 về tội cưỡng đoạt tài sản

7.1. Nội dung vụ án:

Chị Đ vay của anh U 10.000.000 đồng, lãi suất 20%/tháng và vay chị Diễm 20.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, không thế chấp. Nghĩ rằng chị Đ tẩu tán tài sản, U gặp anh S là bạn trai của chị Đ, ném ly nhựa vào anh S, anh S hoảng sợ chạy vào phòng ngủ. U bàn với T, Tr lấy tài sản anh S đang vận chuyển trên xe ba gác để siết nợ.  

7.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi của bị cáo U và đồng phạm có ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đây là tình tiết định khung tăng nặng “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ”.

7.3. Quyết định của Tòa: 

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn U, Lê Thị Diễm T, Nguyễn Minh Tr phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

7.4. Căn cứ pháp lý:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 170, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

8. Ví dụ 8: Bản án 30/2021/HS-ST ngày 12/01/2021 về tội cưỡng đoạt tài sản

8.1. Nội dung vụ án:

Bị cáo T lợi dụng xích mích giữa chị H, chị Hư và chị M để xin tiền bằng những hành vi gọi điện, gửi hình ảnh sự việc bị hại qua Zalo. Đến ngày 25/6/2020, Hoàng Anh T được Ma Thị M gửi thông tin và hình ảnh vụ việc chị Trương Thị Hư, là công chức của Ủy ban nhân dân thị trấn MT lấy trộm tiền của đơn vị. Sau đó T đã sử dụng thông tin trên uy hiếp tinh thần nhằm mục đích chiếm đoạt của chị Hư số tiền 40.000.000 đồng.

8.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nhằm mục đích tư lợi cá nhân bị cáo cưỡng đoạt tài sản của chị Hư.

Quyết định của Tòa: Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

8.3. Căn cứ pháp lý:

Khoản 1 điều 170; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 3 Điều 57; Điều 65; điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

ví dụ tội cưỡng đoạt tài sản 04
Đe dọa người khác để cưỡng đoạt số tiền 40 triệu đồng qua tin nhắn.

9. Ví dụ 9: Bản án 11/2020/HS-ST ngày 10/01/2020 về tội cưỡng đoạt tài sản

9.1. Nội dung vụ án: 

Ngày 02/10/2014, tại nhà nghỉ “L H” thuộc khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Đoàn Hải Đ có hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần Mai Sỹ Đ để chiếm đoạt số tiền 16.000.000 đồng.

9.2. Nhận định của Tòa:

Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, tinh thần của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi cưỡng đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

9.3. Quyết định của Tòa:

Xử phạt bị cáo Đoàn Hải Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù

9.4. Căn cứ pháp lý:

Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

10. Ví dụ 10: Bản án 26/2019/HS-ST ngày 14/05/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

10.1. Nội dung vụ án:

Ngày 12/12/2018, do bà Huỳnh Thị L không có tiền để trả nợ là 5.000.000 đồng nên Hà Việt C cùng với Nguyễn Mạnh T đến quán nước của bà Huỳnh Thị L ở ấp H, xã H, huyện T dùng thủ đoạn viết giấy bán tài sản do bà L đã ký khống trước đủ để chiếm đoạt 01 tivi hiệu Darling, 01 tủ lạnh hiệu Sharp, 01 xe ép nước mía của bà Huỳnh Thị L để cấn trừ nợ, bà L không cho bị cáo lấy nhưng không giữ được tài sản.

10.2. Nhận định của Tòa:

Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Cần có mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

10.3. Quyết định của Tòa:

Bị cáo Hà Việt C 01 (một) năm tù, Bị cáo Nguyễn Mạnh T 09 (chín) tháng tù

10.4. Căn cứ pháp lý:

Khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 – Bộ luật Hình sự năm 2015;

11. Luật sư tư vấn Tội cưỡng đoạt tài sản

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

Trên đây là các ví dụ về tội cưỡng đoạt tài sản được thực tế hóa thông qua các bản án có thật đã được Tòa án các tỉnh thành xét xử. Hi vọng đây sẽ là những ví dụ hữu ích cho quý khách hàng. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ nhé!
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.

Nội dung

Các bài viết cùng lĩnh vực