Lợi dụng chức vụ quyền hạn cản trở, xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người khác có thể bị phạt tù lên đến 05 năm tù (căn cứ điểm b khoản 2 Điều 167 Bộ luật Hình sự). Luật A+ mời bạn tìm hiểu rõ hơn về tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân qua bài viết sau.
1. Căn cứ pháp lý Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân
Công dân có quyền phát biểu ý kiến, quan điểm của mình, tự do trong việc viết lách, thu nhận thông tin và biểu tình. Các quyền này được quy định chi tiết tại Điều 25 Hiến pháp 2013 như sau:
“Điều 25.
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Theo đó, tại Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) cũng đã bảo vệ các quyền này của công dân nếu bị ai đó xâm phạm. Cụ thể, tại Điều 167 Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 167. Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm.”
Tóm lại, không ai có quyền ngăn cản, cản trở việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân nếu các quyền trên không xâm phạm đến các lợi ích chung của xã hội.
2. Các khung hình phạt đối với tội phạm này
Người phạm tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người khác sẽ bị xử lý theo các khung hình phạt tại Điều 166 Bộ luật Hình sự như sau:
| Khung hình phạt | Mức hình phạt | Hành vi phạm tội |
| Khung 1 (Khoản 1 Điều 166) | phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm | Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm. |
| Khung 2 (Khoản 2 Điều 166) | phạt tù từ 01 năm đến 05 năm | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. |
| Hình phạt bổ sung (Khoản 3 Điều 166): bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. | ||
Như vậy, người có hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người khác có thể bị phạt tù lên đến 05 năm.

3. Dấu hiệu pháp lý tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân
Cùng Luật A+ điểm qua một số dấu hiệu pháp lý giúp nhận diện tội phạm này nhé!
3.1. Chủ thể
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, người phạm tội này có thể là bất kỳ ai, từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi).
3.2. Khách thể
Tội phạm này xâm phạm đến quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ liên quan đến các quyền nêu trên.
3.3. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện qua các hành vi sau:
Thứ nhất, hành vi dùng vũ lực.
- Hành vi dùng vũ lực được thực hiện để cản trở không cho công dân được tự do ngôn luận, tự do báo chí hoặc không cho công dân được tiếp cận thông tin hay biểu tình. Một số biểu hiện của hành vi này có thể kể đến như: đánh, đấm, trói, lừa lọc, che giấu thông tin… để làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để bị hại không thể bày tỏ mong muốn của mình hay tiếp cận thông tin mình quan tâm.
Thứ hai, hành vi đe doạ dùng vũ lực.
- Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn… làm cho người bị hại sợ dẫn đến không thể tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hay biểu tình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,… nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm nếu nạn nhân ko làm theo ý muốn của người phạm tội,…
Thứ ba, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
- Trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân theo quy định của Nhà nước hoặc Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xóa kỷ luật, nay lại tiếp tục vi phạm.
Thứ tư, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
- Trước đó đã bị xử phạt/ xử lý hành chính về hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân theo quy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn bị xử lý, nay lại tiếp tục vi phạm.
3.4. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện hành vi ở mặt khách quan với lỗi cố ý (lỗi cố ý gián tiếp hoặc cố ý trực tiếp). Tức là người phạm tội dù nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân nhưng vẫn để cho hậu quả xảy ra dù có mong muốn hay không.
Hành vi có thể được thực hiện bởi nhiều động cơ khác nhau; nhưng động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nó chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.
Mục đích của người phạm tội là mong muốn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân bị xâm phạm.
4. Những hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện quyền tự do báo chí
Sau đây là 13 hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định tại Điều 9 Luật Báo chí 2016:
- Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; Bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân; Gây chiến tranh tâm lý.
- Đăng, phát thông tin có nội dung: Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa Nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
- Đăng, phát thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.
- Tiết lộ thông tin thuộc danh Mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật.
- Thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng.
- Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.
- Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án.
- Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em.
- In, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính.
- Cản trở việc in, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí hợp pháp tới công chúng.
- Đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.
- Đăng, phát trên sản phẩm thông tin có tính chất báo chí những thông tin nêu trên.
Nếu thực hiện một trong các hành vi trên, rất có thể bạn đã vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý hình sự.

5. Các trường hợp nào được xem là không phạm tội này?
Trường hợp một người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân để thực hiện các hành vi tiếp cận thông tin không được tiếp cận, tiếp cận thông tin có điều kiện mà không đáp ứng được điều kiện (xâm phạm những thông tin cá nhân của người khác mà không được người đó cho phép) hay thực hiện hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện quyền tự do báo chí thì bản thân họ là người phạm tội.
Còn người vì ngăn cản họ thực hiện những hành vi sai trái mà xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người đó sẽ không bị coi là phạm tội.
Ví dụ:
- Nếu lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân để viết bài đưa tin lộ bí mật nhà nước thì xem xét về Tội cố ý lộ bí mật Nhà nước (Điều 337 Bộ luật Hình sự) hoặc Tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (Điều 338 Bộ luật Hình sự).
- Nếu lợi dụng quyền biểu tình để gây rối trật tự công cộng thì xem xét về Tội gây rối trật tự công công (Điều 318 Bộ luật Hình sự).
- Nếu vì mục đích chống chính quyền nhân dân thì xem xét về Tội phá rối an ninh (Điều 118 Bộ luật Hình sự).
6. Tố cáo hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình
Thẩm quyền điều tra đối với tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo được quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 như sau:
“Điều 163. Thẩm quyền điều tra
(…)
4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.”
Như vậy, bạn có thể nộp đơn tố cáo hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân đến Công an quận/ huyện nơi gần nhất hoặc nơi xảy ra hành vi phạm tội, nơi người phạm tội cư trú hoặc bị bắt về tội phạm này.
7. Vai trò của Luật sư trong vụ án về tội phạm này
Luật sư trong vụ án hình sự về Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ (có thể là bị hại hoặc người phạm tội) thông qua các công việc sau:
- Giúp thân chủ hiểu rõ về tội danh và quy trình tố tụng;
- Hỗ trợ thân chủ trong việc giải quyết vụ án, giảm thiểu chi phí không cần thiết;
- Tạo điều kiện cho thân chủ yên tâm, bình tĩnh đánh giá tình hình và hậu quả pháp lý;
- Hướng dẫn thân chủ trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và chuẩn bị bào chữa;
- Gặp gỡ cơ quan tố tụng và làm việc trực tiếp với thân chủ trong trại tạm giam,
- Bào chữa trực tiếp cho thân chủ tại phiên tòa;
- Tận dụng thời điểm sớm để chứng minh sự thật và tránh áp dụng hình phạt quá nặng (đối với người phạm tội).
8. Luật sư tư vấn Hình sự Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
Bất cứ ai ngăn cản, cản trở người khác thực hiện các quyền này đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân theo Điều 167 Bộ luật Hình sự. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


