Ra bản án trái pháp luật là một trong những tội danh nghiêm trọng nhất trong nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, trực tiếp phá hoại công lý, chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hành vi này không chỉ làm sai lệch bản chất vụ án, đẩy người vô tội vào vòng lao lý hoặc bỏ lọt tội phạm, mà còn làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của công chúng vào tính công minh, khách quan của Tòa án. Đây là tội danh đặc biệt bị pháp luật Việt Nam xử lý nghiêm khắc nhằm bảo vệ sự thật, công bằng và uy tín của cơ quan xét xử. Để hiểu rõ hơn về định nghĩa, các yếu tố cấu thành và khung hình phạt của Tội ra bản án trái pháp luật, mời bạn cùng Luật A+ tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.
1. Tội ra bản án trái pháp luật được hiểu thế nào?
Tội ra bản án trái pháp luật được hiểu là hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc người tiến hành tố tụng khác cố ý ra bản án hoặc quyết định không đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động hoặc các việc khác thuộc thẩm quyền của tòa án, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Tội ra bản án trái pháp luật là một trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Hành vi phạm tội thể hiện ở việc ra bản án hoặc quyết định mà bản thân người ra án biết rõ là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình ban hành, từ đó xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức và ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan tư pháp. Các hành vi phạm tội như:
- Người có thẩm quyền xét xử như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… ban hành bản án không căn cứ vào chứng cứ, không đúng quy định của pháp luật, trái với nguyên tắc tố tụng.
- Việc ban hành bản án trái pháp luật có thể xảy ra trong mọi loại vụ án: hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
- Hành vi có thể xuất phát từ mục đích cá nhân, động cơ vụ lợi, thiên vị hoặc gây bất công cho một bên tham gia tố tụng.

Tội ra bản án trái pháp luật không chỉ vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp. Để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này, người phạm tội phải có lỗi cố ý, tức là biết rõ bản án mình ban hành là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Đây là tội danh có tính răn đe cao đối với những người được giao quyền xét xử, nhằm bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật.
2. Hình phạt Tội ra bản án trái pháp luật theo Điều 370 BLHS 2015
Căn cứ quy định Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 131 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội ra bản án trái pháp luật như sau:
Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật
1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
c) Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng;
đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Dẫn đến bị cáo, người bị hại, đương sự tự sát;
đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, Tội ra bản án trái pháp luật được định khung hình phạt như sau:
* Khung hình phạt thứ nhất: Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
* Khung hình phạt thứ hai: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
+ Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;
+ Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
* Khung hình phạt thứ ba: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm, đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
+ Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Dẫn đến bị cáo, người bị hại, đương sự tự sát;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
Đồng thời, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Người là Thẩm phán hoặc Hội thẩm, nếu cố ý ra bản án trái pháp luật – tức bản án trái với quy định của pháp luật hiện hành, biết rõ sai phạm nhưng vẫn tuyên án – sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khung sau:
| Khung hình phạt | Mức phạt tù | Tình tiết định khung |
| Khung 1 | Từ 01 năm đến 05 năm | – Ra bản án trái pháp luật mà biết rõ là sai trái. |
| Khung 2 | Từ 05 năm đến 10 năm | Khi phạm tội có một trong các tình tiết sau: • Phạm tội từ 2 lần trở lên; • Đối tượng bị ảnh hưởng là người dưới 18 tuổi, phụ nữ mang thai, người già yếu; • Kết án oan người vô tội về tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng; • Bỏ lọt người/tội phạm nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng; • Gây rối loạn tâm thần (tỷ lệ tổn thương 31–60%) cho bị cáo, người bị hại, đương sự; • Gây thiệt hại tài sản từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng; • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. |
| Khung 3 | Từ 10 năm đến 15 năm | Khi phạm tội có một trong các tình tiết sau: • Kết án oan người vô tội về tội đặc biệt nghiêm trọng; • Bỏ lọt người/tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; • Gây rối loạn tâm thần (tổn thương ≥ 61%) cho bị cáo, người bị hại, đương sự; • Làm người bị ảnh hưởng phải tự sát; • Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng trở lên. |
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm, tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả gây ra.
3. Cấu thành Tội ra bản án trái pháp luật
Tội ra bản án trái pháp luật là hành vi của Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân, dù biết rõ bản án do mình ban hành trái với quy định pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm này xâm phạm nghiêm trọng đến uy tín của Tòa án và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng.
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của Tội ra bản án trái pháp luật là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên, và là người có chức danh Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân. Đây là chủ thể đặc biệt – chỉ người giữ chức danh xét xử mới có thể là người phạm tội này.
Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thuộc chủ thể của tội này, bởi theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, họ chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định cụ thể, không bao gồm tội này.
* Khách thể của tội phạm
Hành vi ra bản án trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn, công minh của Tòa án – cơ quan thực thi quyền tư pháp. Đồng thời, nó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức – những người tham gia tố tụng.
* Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi: Ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật. Có thể là bản án hình sự, dân sự, kinh tế, hôn nhân – gia đình, hành chính…; kể cả các quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có nội dung như bản án.
- Hình thức thể hiện: Viết, ký, tuyên đọc bản án hoặc ban hành bản án.
- Thời điểm hoàn thành tội phạm: Tính từ khi bản án được tuyên đọc, ban hành và bắt đầu có hiệu lực áp dụng.
- Trường hợp chưa hoàn thành: Nếu bản án mới được dự thảo hoặc đã ký nhưng chưa tuyên, chưa gửi cho cơ quan liên quan thì được xem là phạm tội chưa đạt.
* Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nhận thức rõ hậu quả có thể xảy ra nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc hậu quả xảy ra.
Dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm này. Nếu do yếu tố khách quan như nhầm lẫn pháp luật, nghiệp vụ yếu kém hoặc lỗi vô ý thì không cấu thành tội phạm.

* Về hậu quả
Bản án trái pháp luật có thể gây thiệt hại nghiêm trọng về quyền lợi của bị cáo, bị hại hoặc người liên quan. Tuy nhiên, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm bản án trái pháp luật được tuyên án hoặc ban hành.
Một bản án bị coi là trái pháp luật có thể do:
- Vi phạm hình thức: Sai thẩm quyền, sai thủ tục tố tụng, sai thành phần HĐXX…
- Vi phạm nội dung: Áp dụng sai quy định pháp luật, dẫn đến phán quyết sai lệch.
Như vậy, tội danh này nhấn mạnh yếu tố lỗi cố ý và hành vi ra bản án trái pháp luật, chứ không nhất thiết phải đợi đến khi có hậu quả cụ thể xảy ra mới cấu thành tội phạm.
4. Người phạm tội ra bản án trái pháp luật có được hoãn chấp hành hình phạt tù không?
Căn cứ quy định Điều 67 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù như sau:
Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Như vậy, người phạm tội ra bản án trái pháp luật có thể được xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù trong một số trường hợp nhất định, cụ thể như sau:
– Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
– Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
– Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
– Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
5. Trách nhiệm bồi thường khi ra bản án trái pháp luật được quy định thế nào?
Trong mọi lĩnh vực, nếu hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì đều phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong lĩnh vực tư pháp, khi Tòa án – nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – ra bản án, thì trách nhiệm pháp lý đối với bản án trái luật cũng thuộc về Nhà nước.
Cụ thể, khi một bản án được xác định là trái pháp luật và gây thiệt hại, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường, theo quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Tuy nhiên, bản thân người trực tiếp gây ra bản án sai, thường là Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân, cũng không vô can. Họ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường, căn cứ vào quyết định của cơ quan quản lý trực tiếp.
Điều này cho thấy một thực tế: mặc dù hành vi sai trái xuất phát từ cá nhân có thẩm quyền xét xử, nhưng thiệt hại lại ban đầu do ngân sách nhà nước gánh chịu. Điều này làm phát sinh gánh nặng tài chính và dễ dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm cá nhân trong hệ thống tư pháp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, để được xem xét bồi thường, người yêu cầu phải chứng minh đầy đủ các điều kiện sau:
- Có căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;
- Có thiệt hại thực tế xảy ra trong phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Tóm lại, trách nhiệm bồi thường khi ra bản án trái pháp luật vừa thể hiện nguyên tắc pháp lý về bảo vệ quyền lợi công dân, vừa đặt ra yêu cầu rõ ràng về trách nhiệm cá nhân trong hoạt động xét xử – từ đó đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu quả của hệ thống tư pháp.
6. Luật sư hình sự tại Luật A+
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng các vấn đề về Hình sự. Tại Luật A+, chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:
- Tư vấn về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong vụ án Hình sự.
- Phân tích tình huống cụ thể để đánh giá khả năng bị truy tố và mức độ vi phạm, từ đó đưa ra lời khuyên về hướng xử lý.
- Hỗ trợ soạn thảo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc các tài liệu cần thiết.
- Tham gia vào quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các buổi làm việc với cơ quan điều tra.
- Tìm ra các tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có, làm rõ các yếu tố có lợi để khách hàng được hưởng mức án thấp nhất hoặc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên quy định của luật.
- Đại diện khách hàng tham gia phiên tòa, bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho khách hàng tại Tòa án.

Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
Tóm lại, Tội ra bản án trái pháp luật là hành vi nguy hiểm, trực tiếp phá hoại công lý, làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền con người và niềm tin vào Tòa án. Đây là tội danh bị pháp luật Việt Nam nghiêm trị để bảo vệ sự thật khách quan, công bằng và uy tín của cơ quan xét xử.
Nếu bạn đang vướng mắc pháp lý liên quan đến tội danh này hoặc các vấn đề hình sự phức tạp khác, việc tìm kiếm sự tư vấn chuyên nghiệp là vô cùng cần thiết. Luật A+ luôn sẵn sàng đồng hành, cung cấp giải pháp pháp lý tối ưu. Hãy liên hệ ngay với Luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ pháp lý kịp thời.

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung

