Cố tình tác động vật lý (đánh, đấm, đá, …) vào cơ thể nạn nhân, gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ dưới 11% là hành vi phạm tội cố ý gây thương tích dưới 11%. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị phạt tiền, phạt cải tạo hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Sau đây, Luật A+ mời bạn xem bài viết sau để tìm hiểu chi tiết.
1. Mức phạt hành vi cố ý gây thương tích cho người khác dưới 11% tổn thương cơ thể
Hành vi cố ý gây thương tích dưới 11% không phải lúc nào cũng chỉ bị xử phạt hành chính. Tùy vào tính chất và tình tiết cụ thể của hành vi, người vi phạm có thể đối mặt với hai hình thức xử lý hoàn toàn khác nhau.
1.1. Xử phạt hành chính
Trường hợp cố ý gây thương tích dưới 11% không thuộc các tình tiết đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng theo điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Đây là mức xử lý nhẹ nhất, áp dụng khi hành vi chỉ đơn thuần là đánh nhau thông thường, không sử dụng vũ khí, không có tổ chức, không nhắm vào đối tượng đặc biệt và thương tích gây ra dưới 11%.
1.2. Xử lý hình sự
Trường hợp cố ý gây thương tích dưới 11% nhưng có thuộc một trong các tình tiết đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (xem chi tiết tại mục 2) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đây là điểm nhiều người thường bỏ qua: dù thương tích chỉ dưới 11%, nếu hành vi có tính chất nguy hiểm (dùng hung khí, côn đồ, tấn công người yếu thế,…) thì vẫn bị truy cứu hình sự như bình thường.

2. Điều kiện để phạt tù hành vi cố ý gây thương tích dưới 11%
Như đã nói ở trên, hành vi cố ý gây thương tích cho người khác dưới 11% chỉ bị phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp sau theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự), cụ thể:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
- Có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
- Có tính chất côn đồ;
- Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Như vậy, nếu cố ý gây thương tích mà nạn nhân bị tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp trên thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Ví dụ: A dùng dao bấm rạch vào tay B, kết quả giám định thương tích chỉ 5%. Dù thương tích rất nhỏ, A vẫn bị truy cứu hình sự theo Khung 1 Điều 134 vì đã dùng hung khí nguy hiểm. Tương tự, nếu A đánh B (60 tuổi, đang ốm) gây thương tích 8%, A cũng bị xử lý hình sự vì tấn công người không có khả năng tự vệ.
Xem thêm bài viết: Đánh người gây thương tích 3% có bị khởi tố hình sự không?
3. Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để xác định mức độ xử lý trong các vụ cố ý gây thương tích. Đây là con số do cơ quan giám định pháp y xác định, không phải do bệnh viện hay bác sĩ điều trị đánh giá thông thường.
- Cơ quan có thẩm quyền giám định: Việc giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải do Trung tâm Pháp y cấp tỉnh hoặc Viện Pháp y Quốc gia thực hiện. Kết quả từ bệnh viện thông thường không có giá trị pháp lý để xác định tỷ lệ thương tích trong tố tụng hình sự.
- Thủ tục giám định: Bị hại có thể được cơ quan điều tra trưng cầu giám định hoặc tự yêu cầu giám định theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong trường hợp tự yêu cầu, bị hại cần mang theo giấy tờ tùy thân và các tài liệu y tế liên quan đến vụ việc.
- Thời điểm giám định: Bị hại nên đi giám định càng sớm càng tốt sau khi xảy ra sự việc vì một số loại thương tích có thể lành theo thời gian, ảnh hưởng đến kết quả giám định. Trong thực tiễn, thời hạn giám định thông thường là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và có thể được gia hạn thêm 30 ngày trong trường hợp phức tạp.
Căn cứ xác định tỷ lệ: Tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định dựa trên Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Tỷ lệ này dựa trên vị trí, mức độ và hậu quả của thương tích trên từng bộ phận cơ thể.
4. Bồi thường thiệt hại khi nạn nhân bị tổn thương cơ thể dưới 11% là bao nhiêu?
Người phạm tội cố ý gây thương tích dưới 11% phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân các khoản chi phí do sức khỏe nạn nhân bị xâm hại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Như vậy, người phạm tội phải bồi thường các khoản tiền trên cho nạn nhân bị thương tích dưới 11%. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì mức bồi thường tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Xem thêm: Cố ý gây thương tích dưới 30% có bị đi tù không?
5. Khởi kiện hành vi cố ý gây thương tích mức dưới 11% có được không?
Trong trường hợp cố ý gây thương tích dưới 11% nhưng thuộc vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì bị hại có thể làm đơn tố giác đến Cơ quan công an để điều tra về hành vi có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích. Lưu ý, sau khi xảy ra sự việc, bị hại cần nhanh chóng đến bệnh viện (bệnh viện lớn, uy tín) để được khám, chữa và ghi nhận các vết thương. Điều này là một cơ sở quan trọng để giúp các cơ quan điều tra có căn cứ khởi tố vụ án sau này.
Ngoài ra thì người bị thiệt hại cũng có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu người gây thương tích phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra, như viện phí, thuốc men,…
Trong trường hợp cố ý gây thương tích dưới 11% và không thuộc vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, người bị thiệt hại nếu muốn yêu cầu bồi thường có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Người khởi kiện cần nộp đơn khởi kiện có các nội dung sau:
Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
- Tên, nơi cư trú/trụ sở của bên khởi kiện; người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

Cần lưu ý, khi khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, người đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh các thiệt hại của mình. Vì vậy, ngoài đơn khởi kiện, người khởi kiện cần chuẩn bị và nộp kèm các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế như: hóa đơn viện phí, đơn thuốc và hóa đơn mua thuốc, giấy xác nhận nghỉ việc và bằng chứng thu nhập bị mất, hóa đơn đi lại và các chi phí phát sinh khác, kết quả giám định thương tích (nếu có).
Mời bạn đọc theo dõi thêm: 10 bản án đặc biệt nhất về tội cố ý gây thương tích
6. Điều kiện để khởi tố vụ án cố ý gây thương tích khi nạn nhân bị tổn thương cơ thể dưới 11% là gì?
Cố ý gây thương tích cho người khác dưới 11% là trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đây là trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại theo Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”
Theo đó, để tiến hành thủ tục khởi kiện tội cố gây thương tích dưới 11% thì trước hết phải có yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại hoặc người đại diện của bị hại theo quy định của pháp luật để cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
7. Luật sư tư vấn tội cố ý gây thương tích dưới mức 11%
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
8. Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là những câu hỏi phổ biến mà nhiều người thắc mắc khi liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích dưới 11%. Luật A+ tổng hợp và giải đáp để quý khách nắm rõ quyền lợi và hướng xử lý phù hợp.
8.1. Thương tích dưới 11% có được hòa giải để không bị xử lý không?
Có thể. Vì đây là loại tội chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại (Khung 1, khoản 1 Điều 134), nếu hai bên hòa giải thành công và bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi Tòa án sơ thẩm ra bản án thì vụ án sẽ bị đình chỉ. Tuy nhiên, người gây thương tích vẫn có thể bị xử phạt hành chính và vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự đã thỏa thuận trong quá trình hòa giải.
8.2. Người gây thương tích dưới 11% có bị tạm giam không?
Thông thường là không, vì tội cố ý gây thương tích Khung 1 thuộc loại tội ít nghiêm trọng (mức phạt tù tối đa 3 năm). Tuy nhiên, cơ quan điều tra vẫn có thể áp dụng biện pháp tạm giam nếu có căn cứ cho rằng bị can có thể bỏ trốn, cản trở điều tra hoặc tiếp tục phạm tội. Trong thực tiễn, trường hợp bị tạm giam ở mức thương tích dưới 11% là khá hiếm trừ khi có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng.
8.3. Thời hiệu khởi tố tội cố ý gây thương tích dưới 11% là bao lâu?
Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội ít nghiêm trọng (mức phạt tù đến 5 năm) là 5 năm kể từ ngày tội phạm được thực hiện. Tội cố ý gây thương tích Khung 1 có mức phạt tối đa 3 năm tù, do đó thuộc loại tội ít nghiêm trọng và có thời hiệu khởi tố là 5 năm. Sau thời hạn này, dù có đủ chứng cứ, cơ quan tố tụng cũng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự.
8.4. Nếu bị hại không yêu cầu khởi tố thì người gây thương tích có bị phạt không?
Nếu bị hại không có yêu cầu khởi tố, người gây thương tích sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị xử phạt hành chính từ 5 đến 8 triệu đồng theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP vì đây là thẩm quyền của cơ quan hành chính, không phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại. Ngoài ra, bị hại vẫn có quyền khởi kiện dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại độc lập với việc có khởi tố hình sự hay không.
8.5. Gây thương tích dưới 11% cho nhiều người có bị xử lý nặng hơn không?
Có. Nếu một hành vi cố ý gây thương tích tác động đến 02 người trở lên, dù mỗi người chỉ bị thương tích dưới 11%, đây vẫn có thể được xem là tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với 02 người trở lên” và làm tăng mức độ xử phạt hành chính hoặc có thể ảnh hưởng đến quyết định hình phạt trong khung. Trường hợp mỗi người bị thương tích từ 11% đến 30% thì sẽ bị xử lý theo Khung 2 với mức phạt tù từ 02 đến 06 năm.
Như vậy, nếu chưa đến mức bị truy cứu hình sự, người phạm tội cố ý gây thương tích dưới 11% chỉ bị phạt tiền từ 05 đến 08 triệu đồng theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Trường hợp hành vi trên có các dấu hiệu quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm về Tội cố ý gây thương tích. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


