Home » Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh theo Điều 417 BLHS

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh theo Điều 417 BLHS

Trong chiến trường, tình đồng đội là điều thiêng liêng nhất. Tuy nhiên, Tội cố ý bỏ mặc thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi phản bội lại tình đồng chí, đồng đội, trực tiếp đe dọa đến tính mạng con người và làm suy yếu tinh thần chiến đấu của đơn vị. Hành vi này thể hiện sự tàn nhẫn, vô trách nhiệm và đi ngược lại hoàn toàn truyền thống cao đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam.

Hành động bỏ mặc đồng đội trong lúc nguy hiểm nhất không chỉ là vi phạm kỷ luật quân đội mà còn là vi phạm nghiêm trọng đạo đức làm người, gây ra hậu quả khôn lường và làm xói mòn niềm tin. Để hiểu rõ hơn về định nghĩa, các yếu tố cấu thành và khung hình phạt của tội danh này, mời bạn cùng Luật A+ tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.

1. Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh được hiểu thế nào? 

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi cố tình không làm tròn trách nhiệm đối với đồng đội bị thương hoặc hy sinh. Hành vi này được thực hiện bởi quân nhân hoặc người có trách nhiệm (như quân y, chỉ huy) khi họ có khả năng cứu giúp, chăm sóc, nhưng vẫn bỏ mặc. Đây là hành vi trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của đồng đội, đồng thời làm tổn hại nghiêm trọng đến truyền thống nhân đạo của quân đội.

Hành vi phạm tội được chia thành hai nhóm chính:

– Cố ý bỏ thương binh, tử sĩ

Đây là hành động từ chối thực hiện nghĩa vụ cơ bản của người lính đối với đồng đội. Cụ thể:

  • Không đưa thương binh ra khỏi chiến trường để được cấp cứu, dù có đủ điều kiện và khả năng.
  • Không thu gom, bảo vệ hoặc làm thủ tục hậu sự cần thiết cho tử sĩ, để thi thể đồng đội lại nơi nguy hiểm hoặc không được tôn trọng.
  • Bỏ mặc thương binh trong tình huống có thể cứu giúp, dẫn đến hậu quả xấu như thương tật nặng hơn hoặc tử vong.

– Không chăm sóc, cứu chữa thương binh

Nhóm hành vi này xảy ra khi người có trách nhiệm chuyên môn (quân y, bác sĩ) hoặc người có nghĩa vụ (chỉ huy, đồng đội) cố tình không thực hiện nhiệm vụ y tế, chăm sóc.

  • Không cấp cứu kịp thời: Trì hoãn việc sơ cứu ban đầu hoặc đưa thương binh đến bệnh viện.
  • Từ chối cứu chữa: Từ chối thực hiện các thủ thuật y tế cần thiết khi có yêu cầu và điều kiện.
  • Thờ ơ, bỏ mặc: Không làm tròn bổn phận chuyên môn, để mặc thương binh chịu đau đớn hoặc diễn biến xấu về sức khỏe.

Điều cốt lõi của tội này là sự cố ý. Người phạm tội biết rõ hậu quả có thể xảy ra khi bỏ mặc đồng đội nhưng vẫn quyết định không hành động hoặc từ chối giúp đỡ.

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh thể hiện sự suy thoái đạo đức nghiêm trọng của người có trách nhiệm trong quân đội.
Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh thể hiện sự suy thoái đạo đức nghiêm trọng của người có trách nhiệm trong quân đội.

Tóm lại, Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi phản bội truyền thống nhân đạo và tình đồng đội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hành vi này không chỉ làm xói mòn niềm tin mà còn gây tổn hại sâu sắc đến kỷ luật và phẩm chất người lính. Tội phạm này cần được xử lý nghiêm khắc để giữ gìn nguyên tắc “nghĩa tình đồng đội, không bỏ lại ai phía sau”, góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và nhân văn.

2. Hình phạt Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh theo Điều 417 BLHS 2015

Theo Điều 417 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh như sau:

Điều 417. Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh

1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh dẫn đến không tìm thấy thương binh, tử sỹ hoặc thương binh bị chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sỹ trở lên.

Theo đó, Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh được định khung cụ thể như sau:

* Khung hình phạt thứ nhất: Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh dẫn đến không tìm thấy thương binh, tử sỹ hoặc thương binh bị chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

* Khung hình phạt thứ hai: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

+ Đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sỹ trở lên.

Người phạm Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án lên đến 10 năm tù.
Người phạm Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án lên đến 10 năm tù.

Dưới đây là bảng khung hình phạt đối với Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Hình sự 2015:

Khung hình phạtMô tả hành vi phạm tộiHình phạt áp dụng
Khung thứ nhấtNgười có trách nhiệm cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh dẫn đến hậu quả: không tìm thấy thương binh, tử sĩ hoặc thương binh bị chếtCải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm
Khung thứ haiPhạm tội trong một trong các trường hợp:

– Là chỉ huy hoặc sĩ quan

– Hành vi thực hiện đối với 2 thương binh hoặc 2 tử sĩ trở lên

Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi vi phạm nghiêm trọng đạo lý quân nhân, làm tổn hại truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đồng đội không bỏ nhau ngoài trận tuyến” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Việc xử lý nghiêm minh sẽ góp phần củng cố kỷ luật quân đội và khẳng định tinh thần nhân đạo, trách nhiệm với đồng chí, đồng đội trong mọi hoàn cảnh.

3. Cấu thành Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi vi phạm nghiêm trọng đạo lý quân nhân, trái với truyền thống “đồng đội không bỏ nhau nơi trận tuyến”, làm tổn hại đến tinh thần nhân đạo và kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để nhận diện rõ hành vi này, cần phân tích đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như sau:

* Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người thuộc nhóm đối tượng quy định tại Điều 392 Bộ luật Hình sự mới có thể thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể gồm:

  • Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng;
  • Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện;
  • Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;
  • Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.

Ngoài ra, người phạm tội phải từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 và Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Khách thể của tội phạm

Hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh xâm phạm chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ – một trong những chính sách xã hội trọng yếu. Đồng thời, hành vi này còn xâm phạm kỷ luật quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của thương binh, tử sĩ và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với quân đội.

* Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi phạm tội thể hiện qua một trong các dạng sau:

  • Cố ý bỏ thương binh, tử sĩ: Là việc người có trách nhiệm biết rõ nhưng cố ý không thực hiện nhiệm vụ sơ tán, tìm kiếm, bảo vệ hoặc xử lý theo quy định đối với người bị thương, hy sinh trên trận địa.
  • Không chăm sóc hoặc cứu chữa thương binh: Là hành vi không thực hiện hoặc từ chối thực hiện việc điều trị, sơ cứu, chuyển tuyến, hỗ trợ y tế… cho người bị thương khi có điều kiện và trách nhiệm thực hiện.

Hậu quả: Hành vi này có thể dẫn đến không tìm thấy thương binh, tử sĩ, hoặc khiến thương binh tử vong do không được chăm sóc kịp thời. Ngoài ra, hậu quả tinh thần như tổn thương tâm lý, mất niềm tin của đồng đội, dư luận xã hội cũng là những hệ quả nghiêm trọng.

* Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là:

  • Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, biết hậu quả có thể xảy ra và mong muốn hậu quả xảy ra.
  • Cố ý gián tiếp: Người phạm tội biết rõ hậu quả nguy hiểm, không mong muốn nhưng ý thức chấp nhận để mặc hậu quả xảy ra.
Hành vi thuộc Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Hành vi thuộc Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi vô nhân đạo và phản truyền thống quân đội cách mạng, xâm phạm nghiêm trọng đến các giá trị đạo đức, pháp lý và nguyên tắc tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam. Việc xử lý nghiêm khắc đối với tội phạm này là cần thiết để bảo vệ uy tín của quân đội, đồng thời giữ vững tinh thần đồng đội, tương thân tương ái trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

4. Người phạm tội không cứu chữa thương binh nhưng bị bệnh nặng thì được hoãn chấp hành hình phạt tù không?

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù như sau:

Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù
1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Như vậy, người phạm tội không chăm sóc, cứu chữa thương binh nếu đang mắc bệnh nặng có thể được Tòa án xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi sức khỏe ổn định trở lại theo quy định của pháp luật.

Chỉ huy thực hiện Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh sẽ chịu trách nhiệm nặng hơn theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Hình sự.
Chỉ huy thực hiện Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh sẽ chịu trách nhiệm nặng hơn theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, trong thời gian được hoãn thi hành án, nếu người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án sẽ buộc thi hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự. Đây là biện pháp nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách nhân đạo để tiếp tục tái phạm.

5. Luật sư hình sự tại Luật A+

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng các vấn đề về Hình sự. Tại Luật A+, chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:

  • Tư vấn về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong vụ án Hình sự.
  • Phân tích tình huống cụ thể để đánh giá khả năng bị truy tố và mức độ vi phạm, từ đó đưa ra lời khuyên về hướng xử lý.
  • Hỗ trợ soạn thảo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc các tài liệu cần thiết.
  • Tham gia vào quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các buổi làm việc với cơ quan điều tra.
  • Tìm ra các tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có, làm rõ các yếu tố có lợi để khách hàng được hưởng mức án thấp nhất hoặc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên quy định của luật. 
  • Đại diện khách hàng tham gia phiên tòa, bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho khách hàng tại Tòa án.
Gọi ngay luật sư A+ để được hỗ trợ và tư vấn kịp thời.
Gọi ngay luật sư A+ để được hỗ trợ và tư vấn kịp thời.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

Tóm lại, Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi phản bội truyền thống nhân đạo và tình đồng đội, làm xói mòn niềm tin và gây tổn hại sâu sắc đến kỷ luật quân đội. Tội phạm này cần được xử lý nghiêm khắc để giữ gìn nguyên tắc “nghĩa tình đồng đội, không bỏ lại ai phía sau”, góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và nhân văn.

Nếu bạn đang đối mặt với các vấn đề pháp lý liên quan đến quân đội, đặc biệt là các tội danh đặc thù, việc tìm kiếm sự tư vấn chuyên nghiệp là vô cùng cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Hãy liên hệ ngay với Luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ pháp lý kịp thời.