Luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự luôn cố gắng hết sức để có thể giảm nhẹ tối đa các hình phạt cho thân chủ là bị cáo trong vụ án. Để làm được điều đó, luật sư phải chuẩn bị các bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cùng điểm qua các mẫu bài bào chữa do Luật sư A+ đã chuẩn bị và đưa vào sử dụng trong các vụ án thực tế để xin giảm nhẹ cho bị cáo.
1. Bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt là gì?
Trước khi xem các bài bào chữa thực tế, việc hiểu rõ bản chất và cấu trúc của một bài bào chữa sẽ giúp bạn đọc hiểu được dụng ý pháp lý của luật sư trong từng phần lập luận.
1.1. Khái niệm và vai trò của bài bào chữa
Bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt (hay còn gọi là bản luận cứ bào chữa) là văn bản pháp lý do luật sư bào chữa soạn thảo và trình bày tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo. Đây là công cụ quan trọng để luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp nhân đạo như án treo đối với thân chủ.
Vai trò của bài bào chữa không phải là phủ nhận tội danh đã được xác định, mà là làm sáng tỏ các tình tiết có lợi cho bị cáo, giúp Hội đồng xét xử có cơ sở pháp lý để tuyên mức hình phạt phù hợp nhất với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
1.2. Cấu trúc của một bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt
Một bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt thường gồm các phần sau:
- Phần mở đầu bao gồm thông tin nhân thân của luật sư bào chữa, căn cứ pháp lý cho việc tham gia tố tụng và phạm vi nội dung bào chữa.
- Phần tóm tắt nội dung vụ án trình bày lại diễn biến vụ án theo quan điểm của bên bào chữa, làm nổi bật các tình tiết có lợi cho bị cáo ngay từ đầu.
- Phần nội dung bào chữa là trọng tâm của bài, bao gồm lập luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (nếu đủ điều kiện theo Điều 54 BLHS) hoặc đề nghị cho hưởng án treo (nếu đủ điều kiện theo Điều 65 BLHS).
Phần đề nghị là phần kết, nêu rõ yêu cầu cụ thể của luật sư gửi đến Hội đồng xét xử dựa trên toàn bộ lập luận đã trình bày.
2. Bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Hùng T. trong vụ án cố ý gây thương tích
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 12 năm 2023
BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA
Kính gửi: Hội đồng xét xử
Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12
Tôi tên Phùng Thị Huyền, Luật sư đang công tác tại Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn A+, thuộc đoàn luật sư Tp. Hồ Chí Minh, là luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Hùng T. theo Thông báo Người bào chữa số 04/TB-VKS ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, việc thẩm định, xét hỏi tại phiên toà hôm nay, nghe luận tội của Kiểm sát viên, tôi xin đưa ra quan điểm pháp lý để đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Hùng T. như sau:
I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.1. Bị cáo Vũ Hùng T. và bị hại Tống Thị N. đã sống chung như vợ chồng với nhau từ năm 2010, đến nay đã đăng ký kết hôn trở thành vợ chồng hợp pháp. Bị cáo T. bị nhiều bệnh nên hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đời sống có phần ngột ngạt.
1.2. Ngày 24/12/2020, con ruột của bị cáo đến nhà thăm bị cáo đang bệnh nhưng do bị hại không biết nên không mở cửa cho con của bị cáo. Tối hôm đó, bị cáo Vũ Hùng T. chở bị hại Tống Thị N. đi lễ Noel, trên đường đi xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau. Sau đó, bị cáo được mọi người can ngăn nên bỏ về nhà. Tại nhà, sau khi bị hại vừa về đã bóp cửa, có lời lẽ đe dọa dẫn đến bị cáo lo sợ bỏ chạy ra cổng, mở khoá trong hoàn cảnh bị kích động, uất ức, tủi thân và ném ổ khoá về phía bị hại gây thương tích.
Từ khi bị hại Tống Thị N. bị thương đến nay, bị cáo T. luôn chăm sóc, yêu thương vợ mình, tình cảm ngày càng tốt hơn, những hiểu lầm ngày càng được tháo gỡ. Do vậy mà sau đó, bị cáo và bị hại đã đăng ký kết hôn vào ngày 29/11/2022 tại Uỷ ban nhân dân Phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.3 Sau khi xảy ra sự việc, ngày 28/12/2020, Công an Phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận nguồn tin tội phạm. Trong đêm ngày 28/12/2020 và các ngày 29, 30/12/2020, Công an Phường Tân Thới Nhất và Công an Quận 12 ghi nhận lời khai của bị cáo Vũ Hùng T., bị hại Tống Thị N., anh Trần Trọng T., cháu Nguyễn Thanh Trà.
1.4. Ngày 29/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 (Cơ quan điều tra) ra quyết định trưng cầu giám định. Ngày 25/03/2022, Bản Kết luận giám định được Trung tâm giám định pháp y gửi đến Cơ quan điều tra.
1.5. Ngày 29/04/2022, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Vũ Hùng T. Ngày 05/05/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phê chuẩn Quyết định khởi tố và ban hành yêu cầu điều tra.
1.6. Từ ngày 05/05/2022 đến ngày 14/10/2022, Cơ quan điều tra không tiến hành hoạt động điều tra nào (không có hoạt động điều tra nào được thể hiện trong hồ sơ vụ án).
1.7. Ngày 06/07/2022, bị hại Tống Thị N. có đơn xin bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo Vũ Hùng T. có đơn xin cứu xét. Cả hai đơn đều không được ghi nhận trong hồ sơ vụ án.
1.8. Ngày 14/10/2022, Cơ quan điều tra ban hành Bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị cáo Vũ Hùng T. Ngày 09/11/2022, Viện Kiểm sát ra Cáo trạng truy tố bị cáo Vũ Hùng T.
1.9. Ngày 05/12/2023, Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo Vũ Hùng T. bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (“BLHS”).

II. NỘI DUNG
Tại Cáo trạng số 179/Ct-VKS-Q12 ngày 09/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố bị cáo Vũ Hùng T. về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 với tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về vấn đề này, tôi có quan điểm bào chữa như sau:
2.1. Bị cáo Vũ Hùng T. còn một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Theo Cáo trạng, trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Vũ Hùng T. đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình. Luật sư đồng ý với quan điểm nêu trên tại Cáo trạng. Tuy nhiên, bị cáo Vũ Hùng T. còn có các tình tiết giảm nhẹ khác như sau:
2.1.1. Bị cáo Vũ Hùng T. đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại Tống Thị N.
Sau khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại Tống Thị N., bị cáo Vũ Hùng T. bị cáo T. đã nhờ chị gái của mình là bà Vũ Thị Lan qua để đưa bị hại đến bệnh viện, sau khi bình tĩnh, ổn định tâm lý đã quay lại để đề nghị chở bị hại đi Bệnh viện như do bị hại còn giận nên không đồng ý (BL53). Trong suốt quá trình bị hại N. nhập viện và về nhà, bị cáo T. đều dùng hết tâm sức, ân cần chăm sóc cho bị hại từng chút một.
Có thể thấy rằng, bị cáo Vũ Hùng T. đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại không chỉ bằng vật chất thông qua tiền bạc, thuốc men, ăn uống, điều trị mà còn về tinh thần, đến nay những khúc mắc, mâu thuẫn, vết thương vật lý cũng như tinh thần của bị hại đã lành. Cả hai đang chung sống vui vẻ, nương tựa lẫn nhau trong N.a đời còn lại.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS quy định về tính tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện […] bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, tôi kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Vũ Hùng T. theo đúng quy định của pháp luật.
2.1.2. Bị hại Tống Thị N. đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo
Tại BL 41 thể hiện, bị hại Tống Thị N. có Đơn xin bãi nại, rút yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo T. Chưa kể trong suốt quá trình từ điều tra, truy tố cho đến xét xử, bị hại Tống Thị N. đều thể hiện ý chí mong muốn được giảm đến mức thấp nhất trách nhiệm hình sự của bị cáo T., thậm chí là xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 51 BLHS “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án” và hướng dẫn tại Mục I.5 Công văn số 212/TANDTC-PC thì việc bị hại có đơn xin bãi nại, rút yêu cầu xử lý hình sự đối với bị T. có thể được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác.
Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo Vũ Hùng T.
2.1.3. Bị hại Tống Thị N. cũng có một phần lỗi
Trong vụ án này, nguyên nhân của vụ việc cũng xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống giữa hai vợ chồng. Bị cáo T. đang bệnh, nghe tin con trai đến thăm không vào được. Bị hại thì nóng tính, cho rằng bị cáo nghĩ xấu cho mình nên trong lúc đi xe có hành vi đánh bị cáo ở giữa đường, sau đó khi về còn có những lời lẽ hăm dọa làm bị cáo T. uất ức, kích động.
Cả hai vợ chồng nếu như bình tĩnh lại với nhau, nhường nhau một chút thì đã không xảy ra sự việc để rồi bị cáo Vũ Hùng T., năm nay đã hơn 50 tuổi, mang nhiều bệnh trong người phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết “bị hại cũng có một phần lỗi” làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
2.1.4. Bị cáo Vũ Hùng T. đang mắc nhiều bệnh nan y
Hiện tại, bị cáo Vũ Hùng T. đang điều trị: Viêm gan virus B, Viêm gan virus C, đồng nhiễm viêm gan virus D, xơ gan, lao phổi, nang thận phải, thoái hóa khớp,… nhưng do cuộc sống quá khó khăn, thường xuyên bệnh, việc chạy xe Grab không đủ lo cho gia đình, chi phí khám chữa bệnh lớn nên bị cáo chỉ uống thuốc nam để cầm cự.
Với bệnh tình như vậy, bị cáo T. nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS để có cơ hội sớm về với gia đình, về với bị hại để nương tựa nhau sống qua ngày. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận tình tiết này làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
2.2. Bị cáo Vũ Hùng T. có đủ điều kiện để được xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Căn cứ khoản 1 Điều 54 BLHS, bị cáo Vũ Hùng T. có đủ 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS là (i) thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và (ii) tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đồng thời bị cáo T. có các tình tiết giảm nhẹ như: bị hại cũng có một phần lỗi, bị hại có đơn xin bãi nại và bị cáo đang mắc bệnh nan y.
Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng quy định nêu trên để Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo T. bị truy tố (dưới 02 năm tù giam) để bị cáo T. sớm có cơ hội được được về, sinh sống, chăm lo cho bị hại trong N.a đời còn lại.
2.3. Tính chất của vụ án này là mâu thuẫn giữa vợ chồng, đến hiện tại hoàn cảnh đã thay đổi, hành vi phạm tội của bị cáo đã được khắc phục hoàn toàn
Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, như hồ sơ vụ án và qua thủ tục xét hỏi cũng đã làm rõ được tính chất của vụ án này là mâu thuẫn giữa vợ chồng. Cụ thể, xuất phát từ việc bị cáo và bị hại hiểu lầm nhau trong cuộc sống gia đình, dẫn đến bị hại đánh bị cáo, bị cáo bị phẫn uất, lo sợ việc hăm dọa của bị hại mà có hành vi gây thương tích cho bị hại.
Đến nay, vết thương về thể chất và tinh thần của bị hại đã lành, hai người đã quyết định kết hôn và nương tựa nhau phần đời còn lại, việc bị cáo bị xử lý hình sự không phải là bảo vệ quyền lợi cho bị hại mà còn làm sâu sắc thêm nỗi đau của bị hại khi mất đi người đàn ông để bản thân bị hại nương tựa.
Sự việc đã xảy ra vừa tròn 03 năm, sau sự việc bị cáo và bị hại đã thay đổi, biết tha thứ và nhường nhịn nhau hơn. Bị cáo T. đã rất ăn năn, hối cải, mong muốn làm lại cuộc đời. Hơn thế N.a, bệnh tình của bị cáo T. là bệnh đi theo bị cáo cả đời, cần thuốc men điều trị thường xuyên. Có thể thấy bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là chưa thật sự cần thiết.
Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 50 BLHS, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả đã được khắc phục để quyết định hình phạt một cách hợp lý.
III. ĐỀ NGHỊ CỦA LUẬT SƯ
Vì các lẽ trên,
Luật sư bào chữa kính đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ quy định tại:
– Điểm d khoản 3 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
– Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xác định:
– Bị cáo Vũ Hùng T. có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
- Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Bị hại có đơn xin bãi nại;
- Bị hại cũng có một phần lỗi;
- Bị cáo đang mắc bệnh nan y.
– Cân nhắc đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Hùng T. và quan hệ vợ chồng giữa bị cáo và bị hại.
– Bị báo Vũ Hùng T. có đủ điều kiện để được xem xét để xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Quyết định: Tuyên phạt bị cáo Vũ Hùng T. thấp hơn mức 02 năm tù giam để bị cáo T. có cơ hội được trở về với bị hại, cùng nhau nương tựa sống hết N.a đời còn lại.
Một lần nữa, tôi, với tư cách Luật sư của bị cáo, và tôi thay mặt gia đình bị cáo, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát; cầu mong quý vị có phán quyết anh minh, nhân đạo.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trân trọng./.
LUẬT SƯ BÀO CHỮA (Ký tên)
PHÙNG THỊ HUYỀN
3. Bản bào chữa của luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trương Thị T. trong vụ án tổ chức đánh bạc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hồ Chí Minh, ngày __/__/____
BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA
Kính gửi: Hội đồng xét xử
Vị Đại diện Viện kiểm sát
Tôi có thông tin nhân thân như sau:
| Họ và tên | : | PHÙNG THỊ HUYỀN | |
| Thẻ luật sư số | : | 12199/LS do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp ngày 08/8/2017 | |
| Chứng chỉ hành nghề số | : | 13380/TP/LS-CCHN do Bộ Tư pháp cấp ngày 23/8/2016 | |
| Hộ chiếu số: | : | C1772954 do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 20/06/2016. | |
| Địa chỉ liên hệ: | : | Văn phòng số D.39, số 40 Bà Huyện Thanh Quan, P. Võ Thị Sáu, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh. | |
| Tổ chức hành nghề luật sư | : | CÔNG TY LUẬT TNHH A+ | |
| Điện thoại | : | 0707 599 991 | Email: huyen@apluslaw.vn |
Là người bào chữa cho bị cáo Trương Thị T. trong vụ án “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo số 469/2023/TLPT ngày 28/06/2023.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi xin phép nêu các tình tiết, quan điểm nhằm làm sáng tỏ nội dung liên quan đến việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng của của bị cáo Trương Thị T.
I. NỘI DUNG
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các chứng cứ được thẩm định tại phiên tòa, sau khi nghe quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo Trương Thị T. Luật sư bào chữa xin đưa ra quan điểm bào chữa cho bị cáo T. như sau:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trương Thị T. phạm tội tổ chức đánh bạc là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy vậy, luật sư bào chữa nhận thấy việc tuyên phạt bị cáo T. với mức hình phạt 5 năm tù là quá cao. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng và đầy đủ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, vai trò của bị cáo T. cũng như bị cáo T. còn có một số tình tiết giảm nhẹ chưa được xem xét. Cụ thể như sau:
1. Bị cáo Trương Thị T. chỉ là người giúp sức phiên dịch cho Wu Ting Ting không phải là người chỉ đạo, hướng dẫn cho các bị cáo
Tại trang 30 Bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo Trương Thị T. có vai trò là người thực hành tích cực, giúp Wu Ting Ting phiên dịch, chỉ đạo hướng dẫn các bị cáo khác thực hiện việc quảng cáo, giới thiệu, hướng dẫn người khác chơi đánh bạc trên trang web.
Nhận định trên là chưa phù hợp với thực tế vụ án, bởi lẽ:
1.1. Bị cáo T. ban đầu được thuê vào làm tại quán cà phê của Wu Ting Ting, sau đó vì biết tiếng Hoa nên được Wu Ting Ting giao cho việc dịch lời nói của Wu từ tiếng Hoa sang tiếng Việt cho những người khác hiểu công việc,… Việc một số bị cáo, người làm chứng thấy bị cáo T. đi cùng với Wu Ting Ting cũng như đứng ra hướng dẫn, mô tả công việc cụ thể khi Wu Ting Ting tuyển người rồi cho rằng bị cáo T. là người quản lý, có vai trò quan trọng, trong đường dây là chưa chính xác bởi bị cáo T. chỉ phiên dịch lời nói của Wu sang tiếng Việt cho những người khác nghe. Ý chí, quyết định trong nội dung T. truyền tải tới mọi người là của Wu Ting Ting chứ không phải của ý chí, quyết định của bị cáo T.
1.2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự 2015, bị cáo Trương Thị T. không thể được xem là người trực tiếp đứng ra tổ chức việc đánh bạc mà chỉ nên được xem là đồng phạm của Wu Ting Ting với vai trò giúp sức phiên dịch tạo điều kiện để Wu Ting Ting có khả năng giao tiếp với những đối tượng khác để Wu Ting Ting thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc.
1.3. Ngoài ra, với việc bị cáo T. có trình độ, hiểu biết về pháp luật kém nên ngay từ đầu, T. không nhận thức được hành vi này là trái pháp luật mà tin tưởng vào Wu Ting Ting, chỉ làm công ăn lương, không có sự bàn tính, lên kế hoạch, câu kết chặt chẽ cùng với Wu Ting Ting.
1.4. Do vậy, có căn cứ cho rằng bị cáo Trương Thị T. chỉ có vai trò giúp sức phiên dịch cho Wu Ting Ting, không phải là người quản lý điều hành đường dây tổ chức đánh bạc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, kính mong Hội động xét xử nhận định đúng về vai trò của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với vai trò của bị cáo T. trong vụ án này.

2. Một số tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Trương Thị T. chưa được xem xét
Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận bị cáo Trương Thị T. có các tình tiết giảm nhẹ như sau: (1) phạm tội lần đầu, (2) thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, (3) đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, (4) bị cáo là mẹ đơn thân nuôi 02 con còn nhỏ, có 01 con sinh năm 2013 bị khuyết tật trí tuệ.
Ngoài những tình tiết nêu trên, bị cáo Trương Thị T. còn có các tình tiết giảm nhẹ như sau:
2.1. Bị cáo đang có thai
2.1.1. Theo Giấy chứng nhận điều trị số 16/CN ngày 11/10/2023 của Bệnh viện Quận 7 thì bị cáo Trương Thị T. đang mang song thai. Phải thêm rằng, sau phiên tòa sơ thẩm, luật sư đã nhiều lần cảnh báo bị cáo T. không được để xảy ra việc mang thai vì điều đó không đáng, ảnh hưởng đến cả cuộc đời của những đứa trẻ. Tuy nhiên, đến sau này thì bị cáo mới báo với luật sư là đã có thai.
2.1.2. Theo Mục I.9 Công văn thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết người phạm tội có thai thì “Quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự không phân biệt người phạm tội là phụ nữ có thai tại thời điểm phạm tội hay trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, trường hợp sau khi bị khởi tố bị cáo mới có thai thì Tòa án vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là phụ nữ có thai” đối với bị cáo”.
2.1.3. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo để bị cáo có thể sớm về với chăm nuôi các con. Việc áp dụng tình tiết này không nhằm giúp bị cáo T. mà là để giúp các cháu, những đứa con của bị cáo sớm có người chăm sóc.
2.2. Phạm tội do lạc hậu
Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS thì phạm tội do lạc hậu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Phạm tội do lạc hậu chưa được văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể. Tại Từ điển tiếng Việt, trang 535 giải thích “lạc hậu là bị ở lại phía sau, không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung”. Tại Sổ tay Thẩm phán 2009 hướng dẫn “Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội do lạc hậu” nếu lạc hậu đó là do nguyên nhân khách quan đưa lại, như do đời sống xã hội nên không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không có điều kiện thực tế để nhận biết các đúng sai trong cuộc sống,…”.
Trong vụ án này, có căn cứ cho rằng bị cáo Trương Thị T. phạm tội do lạc hậu. Bởi lẽ:
2.2.1. Bị cáo T. là mẹ đơn thân, liên tục phải kiếm chỗ đi làm thuê chăm lo cho con nhỏ bị khuyết tật, quần quật làm việc suốt ngày. Ban đầu, T. xin vào làm tại quán cà phê bình thường như những người khác, sau đó mới phụ giúp Wu Ting Ting phiên dịch công việc cho những người khác. Do không hiểu biết về pháp luật, bị cáo T. không ý thức được hành vi của Wu Ting Ting là tổ chức đánh bạc mà chỉ nghĩ đây là trò chơi trực tuyến, không có hiểu biết về việc trò chơi trực tuyến như của Wu Ting Ting là phạm pháp.
2.2.2. Trong vụ án thể hiện phương thức phạm tội, hoạt động tương tự như một số trò chơi giải trí thông thường, gửi lời mời đến những người khác để kêu gọi chơi trò chơi qua mạng. Bị cáo T. đã không bắt kịp các thành tựu khoa học công nghệ dẫn đến không nhận thức đây là hành vi tổ chức đánh bạc sử dụng mạng máy tính để ăn thua bằng tiền là bất hợp pháp nên mới đi đến hành vi phạm tội. Nếu bị cáo T. biết rõ hành vi này là trái pháp luật, sẽ bị ở tù, bị cáo T. sẽ không tham gia vì bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ mà có một cháu bị khuyết tật.
2.2.3. Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, đối với những người có được đào tạo một cách bài bản, có chuyên môn hoặc chí ít không phải vùi đầu vào những công việc chân tay, chúng ta thường có nhận thức về mặt pháp luật tốt hơn. Trong khi đó, với cuộc sống trong gia đình nhỏ của bị cáo T., khó khăn trăm bề, bị cáo phải vùi đầu vào làm việc từ khi trời sáng đến khi đêm muộn và điều đó lặp đi lặp lại nhiều năm trời để kiếm tiền nuôi các con. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi bị cáo T. được bác sĩ chẩn đoán: (i) đau nửa đầu, (ii) rối loạn lo âu và (iii) rối loạn giấc ngủ (Theo tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Nhân dân Gia Định). Những áp lực bủa vây hàng ngày đó khiến cho bị cáo không còn nhạy bén, tinh tường nhận ra hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội đến mức bị xử lý hình sự.
2.2.4. Ngoài ra, thời gian làm việc cho Wu Ting Ting của T. chỉ mới 01 tháng, bị cáo T. khó có thể tìm hiểu về giấy phép cũng như chưa đủ để nhận thức rõ được công việc của mình là hợp pháp hay bất hợp pháp. Lằn ranh giữa đánh bạc bất hợp pháp và trò chơi điện tử chỉ khác nhau ở việc có hay không có ăn thua bằng tiền, trong trường hợp này là việc cho phép rút và nộp tiền nên được xem là đánh bạc.
2.2.5. Do vậy, có căn cứ cho rằng bị cáo T. vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, kém hiểu biết về pháp luật, không bắt kịp các thành tựu công nghệ dẫn đến không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã bị lại quá xa so với sự phát triển chung của xã hội, ngoài ra bị cáo T. vì quá tin tưởng Wu Ting Ting xác nhận việc game này là hợp pháp. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội do lạc hậu theo điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS đối với hành vi của bị cáo Trương Thị T.
2.3.. Gia đình bị cáo có công với cách mạng
2.3.1. Theo Giấy xác nhận của Hội Cựu chiến binh xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cha ruột của bị cáo là ông Trương Văn Dũng đang là Ủy viên Ban thường vụ Hội cựu chiến binh xã, đã tham gia nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia và kháng chiến bảo vệ tổ quốc ở biên giới phía Bắc năm 1978. Cha của bị cáo vinh dự được được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, là người có công với cách mạng theo điểm l khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020.
2.3.2. Theo Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ ngày 01/05/1982, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ Mai Văn Bính, gia đình bên ngoại của bị cáo T. là gia đình liệt sĩ, có công với tổ quốc được cấp bằng tổ quốc ghi công.
2.3.3. Căn cứ khoản 2 Điều 51 BLHS, kính mong Hội đồng xét xử ghi nhận tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Trương Thị T.
2.4. Bị cáo Trương Thị T. là lao động chính trong gia đình
2.4.1. Theo khoản 2 Điều 51 BLHS và Mục I.5 Công văn 212/TANDTC-PC, thì khi quyết định hình phạt, tùy từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
2.4.2. Bị cáo Trương Thị T. hiện tại ở cùng với hai con nhỏ tại TP. HCM, bị cáo là người có khả năng lao động duy nhất ở trong gia đình để có thể có tiền nuôi các con. Do vậy, việc bị cáo T. phải chấp hành hình phạt tù sẽ dẫn đến các cháu bơ vơ, không nơi nương tựa
2.4.3. Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo T.
3. Bị cáo Trương Thị T. đáp ứng điều kiện để được chuyển khung hình phạt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”.
Theo Bản án sơ thẩm và tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giao nộp tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị T. có đến 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 BLHS bao gồm: (1) Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; (2) Người phạm tội có thai theo điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS; (3) Phạm tội do lạc hậu theo điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS và có các tiết giảm nhẹ khác quy định ở khoản 2 Điều 51 BLHS.
Do vậy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm án đến mức thấp nhất có thể để bị cáo sớm về với các con, điều này thể hiện tính nhân đạo, không chỉ đối với bị cáo mà còn đối với 04 cháu nhỏ không có tội tình nhưng phải chịu cảnh không có cha, không có mẹ chăm sóc, nuôi nấng hàng ngày.
4. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức phải cách ly khỏi xã hội, việc bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ dẫn đến hệ lụy xấu hơn cho xã hội
Bị cáo Trương Thị T. có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo xuất phát từ việc trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi là không cao nên việc cách ly bị cáo T. ra khỏi xã hội một thời gian là không cần thiết mà còn gây hệ lụy xấu, ảnh hưởng đến các con của bị cáo. Căn cứ Điều 1, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, tôi kính mong Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo T. được hưởng án treo bởi lý do sau:
4.1. Về nhân thân bị cáo Trương Thị T.
Theo Bản án sơ thẩm và hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo Trương Thị T. chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, trước đây luôn chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, nghĩa vụ công dân tại địa phương. Chưa kể gia đình bị cáo là gia đình có truyền thống cách mạng, có công với đất nước. Chỉ vì trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ mà từ một nhân viên bán quán cà phê trở thành người phiên dịch, giúp sức cho bị cáo Wu Ting Ting phạm tội.
4.2. Bị cáo Trương Thị T. có nhiều tình tiết giảm nhẹ
Bị cáo Trương Thị T. có các tình tiết giảm nhẹ như sau:
1) Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
2) Người phạm tội có thai theo điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS;
3) Phạm tội do lạc hậu theo điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS;
4) Đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính;
5) Bị cáo là mẹ đơn thân nuôi 02 con còn nhỏ, có 01 con sinh năm 2013 bị khuyết tật trí tuệ;
6) Gia đình bị cáo có công với cách mạng;
7) Bị cáo là lao động chính trong gia đình.
4.3. Bị cáo Trương Thị T. có nơi cư trú rõ ràng
Bị cáo Trương Thị T. có hộ khẩu thường trú tại ấp Phước Thọ, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trường hợp không phải chấp hành hình phạt tù bị cáo cam kết sẽ về địa phương sinh sống việc làm.
4.4. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
4.4.1. Bị cáo Trương Thị T. đã ly hôn với chồng từ lâu, là mẹ đơn thân, phải tự mình nuôi 02 con nhỏ trong đó có một cháu bị khuyết tật nặng. Do vậy, hoàn cảnh của bị cáo T. là đặc biệt khó khăn. Tuy vậy, bị cáo T. không đầu hàng số phận, bị cáo liên tục phải kiếm chỗ đi làm thuê chăm lo cho con nhỏ bị khuyết tật, quần quật làm việc suốt ngày.
4.4.2. Động cơ để thực hiện hành vi phiên dịch cho Wu Ting Ting của bị cáo T. xuất phát từ hoàn cảnh túng thiếu của 03 mẹ con, bị cáo T. phải tìm việc làm để nuôi các cháu đang tuổi ăn tuổi lớn, trong đó có một cháu bị khuyết tật nặng.
4.4.3. Tháng 04/2021, bị cáo trong lúc tìm việc tại TP. Vũng Tàu thì gặp Wu Ting Ting, lúc này là bà chủ của quán cà phê chuẩn bị mở cửa, cần tuyển nhân viên dọn dẹp, trang trí và làm băng rôn, bảng hiệu,… chuẩn bị khai trương quán. Bị cáo T. nhờ biết chút ít tiếng Hoa nên được Wu Ting Ting giao thêm nhiệm vụ phiên dịch lời chỉ đạo của Wu Ting Ting cho những nhân viên khác hiểu.
4.4.4. Đến khi dịch Covid-19 xảy ra, bị cáo quán cà phê của Wu Ting Ting không thể hoạt động tiếp nên bị cáo được Wu Ting Ting thuê tiếp tục làm phiên dịch về công việc quảng cáo game, từ đó mới dẫn đến phạm tội và bị đưa ra xét xử như ngày hôm nay.
4.4.5. Như vậy, có thể thấy bị cáo Trương Thị T. không phải cố tình thực hiện hành vi trái pháp luật mà ngay từ đầu xuất phát từ mong muốn hết sức hợp pháp là tìm kiếm một công việc để nuôi con. Vì thiếu kiến thức, nhận thức pháp luật còn thấp dẫn đến việc bị cáo tham gia phiên dịch, giúp sức cho Wu Ting Ting phạm tội. Do vậy, mặc dù hành vi của bị cáo T. là nguy hiểm cho xã hội nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm là không cao, có thể cải tạo mà không gây nguy hiểm cho an ninh trật tự, an toàn xã hội.
4.5. Việc bị cáo Trương Thị T. phải chấp hành hình phạt tù là quá nặng và mang lại nhiều hệ lụy cho xã hội
4.5.1. Bị cáo Trương Thị T. có hai con nhỏ, trong đó có một cháu khuyết tật nặng cần người chăm sóc thường xuyên. Hiện tại, bị cáo có lại đang có song thai, sắp tới đây, bị cáo sẽ có nghĩa vụ chăm sóc thêm 02 cháu nhỏ. Trong trường hợp bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì các con nhỏ của bị cáo T. sẽ bơ vơ, không có người chăm sóc, nuôi dưỡng, thể hiện tình yêu thương. Các cháu hiện tại đã không có cha, lớn lên lại không có tình yêu thương, uốn nắn từ người mẹ sẽ có nguy cơ dẫn đến có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến cả xã hội.
4.5.2. Trong khi đó, khi xem xét yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưng đã trình bày chúng ta thấy được việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn với bị cáo Trương Thị T. là quá nặng, bị cáo T. không phải thành phần bất chấp tất cả để thu lợi bất chính, hành vi của bị cáo có mức độ nguy hiểm thấp, có thể tự mình cải tạo qua một thời gian nhất định để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, có điều kiện nuôi con
Vì các lý do trên, tôi có đề nghị như sau:
II. ĐỀ NGHỊ CỦA LUẬT SƯ
Kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào:
– Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
– Khoản 3 Điều 17; Điểm m, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;
– Điều 1, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP.
Quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Trương Thị T.;
- Sửa Bản án sơ thẩm hình sự số 19/2023/HSST ngày 15/05/2023 theo hướng giảm hình phạt và cho bị cáo Trương Thị T. được hưởng án treo.
Việc Hội đồng xét xử xem xét giảm án, cho bị cáo T. được hưởng án treo không chỉ cho bị cáo Trương Thị T. một cơ hội làm lại cuộc đời mà còn mang lại một cơ hội lớn, ảnh hưởng đến cuộc đời của 04 cháu nhỏ để 04 cháu có thể được sống với sự yêu thương của mẹ.
Một lần nữa, tôi với tư cách là luật sư bào chữa thay mặt bị cáo, gia đình bị cáo, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát; Kính mong Hội đồng xét xử có một bản án anh minh, nhân đạo để bị cáo Trương Thị T. và các con có một cơ hội làm lại.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
LUẬT SƯ BÀO CHỮA (Ký tên)
PHÙNG THỊ HUYỀN
4. Bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Tạ Gia B. trong vụ án trộm cắp tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 3 năm 2024
BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA
(Trong vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 18/01/2024)
Kính gửi:
– Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội “trộm cắp tài sản” thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 18/01/2024 bởi Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh;
Tôi là
| Luật sư | NGUYỄN DUY ANH | |
| Thẻ luật sư số | 10674/LS cấp ngày 03/09/2019 | |
| Chứng chỉ hành nghề số | 12189/TP/LS-CCHN do Bộ Tư pháp cấp ngày 09/11/2015 | |
| Điện thoại | 0939 698 142 | Email: anh@apluslaw.vn |
Là người bào chữa cho ông Nguyễn Tạ Gia B. – bị cáo trong vụ án hình sự bị truy tố về tội “trộm cắp tài sản” thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 18/01/2024 bởi Tòa án nhân dân (TAND) quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh (căn cứ theo Thông báo về việc đăng ký bào chữa số 14/2024/TB-TA ngày 26/02/2024 của TAND quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh).
Liên quan đến nội dung vụ án, bằng văn bản này, chúng tôi xin có một số ý kiến bào chữa như sau:
I. Về tội danh truy tố
Liên quan đến nội dung và các tình tiết của vụ án, bị cáo Nguyễn Tạ Gia B. đã ăn năn hối cải, khai nhận rõ về hành vi của mình trong quá trình điều tra, xét xử, vì vậy, tôi không có ý kiến gì khác về tội danh mà Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) quận Tân Phú truy tố theo Cáo trạng ngày 16/01/2024 đối với bị cáo B.

II. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết đã được xác định theo Cáo trạng của Viện trưởng VKSND quận Tân Phú
Thứ nhất, về mặt nhân thân, bị cáo B. không có tiền án, tiền sự; trước đây chưa từng phạm tội gì. Bị cáo B. bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Bộ luật Hình sự), có mức hình phạt tối đa 03 năm tù, tức thuộc loại tội ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, ngay từ khi bắt đầu giai đoạn điều tra, bị cáo B. đã luôn khai B. thành khẩn, hợp tác làm việc với Cơ quan điều tra. Bị cáo B. cũng đã ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi của mình là sai, chấp nhận mọi hình thức xử lý theo quy định. Điều này được thể hiện qua các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can đối với B. (BL259, 264, 270) và được Cơ quan điều tra xác nhận tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 227/KLĐT ngày 18/12/2023 (BL528). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hai tình tiết giảm nhẹ nêu trên cũng được nêu tại bản Cáo trạng ngày 16/01/2024 của Viện trưởng VKSND quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh, kính mong HĐXX xem xét, áp dụng.
2. Các tình tiết giảm nhẹ khác đề xuất áp dụng
Ngoài hai tình tiết giảm nhẹ vừa nêu, kính mong HĐXX xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo B. như sau:
Thứ nhất, theo Cáo trạng của vụ án, bị cáo B. và gia đình đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại và những người liên quan (đoạn Về phần Dân sự – trang 4 của Cáo trạng). Thực tế, bị hại là anh Cao Đăng Khánh Trường đã nhận lại được tài sản của mình và đã xác nhận lại theo Đơn xin bãi nại ngày 01/3/2024. Vì vậy, kính mong HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo B..
Thứ hai, trong vụ án này, giá trị tài sản bị trộm theo kết luận định giá là 7.500.000đ, chỉ nằm ở mức đầu của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự về tội trộm cắp tài sản (từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ); Ngoài ra, tài sản đã được thu hồi và trao trả đầy đủ cho người bị hại, nên tôi kính mong HĐXX xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử một số vụ án với tội danh tương tự, tôi cũng nhận thấy một số trường hợp giá trị tài sản bị trộm cắp bằng hoặc lớn hơn so với vụ án này, nhưng tài sản sau đó đã được trao trả đầy đủ cho người bị hại thì HĐXX có thể xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gây thiệt hại không lớn. Tôi hiểu rõ và tôn trọng sự độc lập của mỗi HĐXX trong mỗi vụ án khác nhau, tuy nhiên, tôi cũng xin nêu ra một số trường hợp để HĐXX có thể tham khảo, cân nhắc và xem xét, như Bản án số 102/2023/HSST ngày 26/7/2023 của TAND quận Tân Phú[1], Bản án số 119/2023/HSST ngày 21/8/2023[2] của TAND quận Tân Phú, Bản án số 230/2023/HS-PT ngày 28/7/2023 của TAND TP. HCM[3], Bản án số 538/2022/HS-PT ngày 13/12/2022 của TAND TP. HCM[4].
Thứ ba, bị hại là anh Cao Đăng Khánh Trường cũng đã có Đơn xin bãi nại cho bị cáo B., thể hiện bị cáo B. và gia đình đã rất thiện chí xin lỗi, bồi thường toàn bộ thiệt hại và mong muốn Tòa án có thể xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đến mức thấp nhất có thể cho bị cáo B., để B. có thể có một tương lai tốt đẹp hơn và cống hiến cho xã hội.
Căn cứ Điều 5 Phần I Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, tôi kính mong HĐXX xem xét việc bị hại có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo B. là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự :
Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử
[…] trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tham khảo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau: […]
– Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản.
Thứ tư, ông ngoại của bị cáo B. là ông Tạ Công Long là người có công với cách mạng, được Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày. Vì vậy, kính mong HĐXX xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tóm lại, tôi kính đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo Nguyễn Tạ Gia B. được hưởng 04 (bốn) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xem xét Đơn xin bãi nại của bị hại và người thân của bị cáo B. có công với cách mạng, áp dụng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
III. Đề xuất áp dụng án treo cho bị cáo B.
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Căn cứ theo quy định về điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP):
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP
Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo
Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
- Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc […]
- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự […]
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Tôi nhận thấy trong vụ án này, bị cáo B. có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định nêu trên, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về mức hình phạt, bị cáo B. bị truy tố về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt tối đa là 03 năm tù.
Thứ hai, về nhân thân của bị cáo B., như đã trình bày ở phần trên, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có bất kỳ tiền án, tiền sự và trước đây chưa từng phạm tội gì. Ngoài lần phạm tội này, từ trước đến nay, bị cáo luôn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú cũng như nơi làm việc.
Thứ ba, bị cáo B. có 6 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xác định theo Cáo trạng; 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Luật sư đề nghị HĐXX xem xét áp dụng. Bị cáo B. cũng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Thứ tư, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và nơi làm việc ổn định. Nơi thường trú cũng là địa chỉ cư trú thường xuyên, thực tế hiện nay của bị cáo là tại 453/73 Lê Văn Khương, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh. Bị cáo B. cũng đang có công việc ổn định từ ngày 29/3/2022 đến nay là nhân viên văn phòng tại Công ty Cổ phần kinh doanh bất động sản SINGA (địa chỉ 24 Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, TP. HCM). Do đó, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể thực hiện việc giám sát và giáo dục đối với Bị cáo.
Thứ năm, bị cáo B. mặc dù học đến lớp 12 thì nghỉ học, tuy nhiên cũng có ý thức đi làm kiếm tiền để nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình; bị cáo cũng được Công ty nhận xét tốt trong công việc, là người có trách nhiệm, có ý thức vươn lên trong cuộc sống (theo Xác nhận của Đơn vị công tác ngày 06/3/2024 của Công ty Cổ phần kinh doanh Bất động sản SINGA). Nay chỉ vì phút bồng bột, thiếu suy nghĩ mà bị cáo B. đã phải chịu hậu quả quá lớn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự, là một “điểm đen” đi với bị cáo suốt quãng đời còn lại, trong khi bị cáo phạm tội khi còn quá trẻ, còn cả tương lai, cuộc đời phía trước.
Tôi cho rằng căn cứ theo nhân thân, hoàn cảnh, thái độ của bị cáo B., việc được hưởng án treo là không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm, thể hiện tính nhân văn, sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo cũng đã rất ăn năn hối cải, hoàn toàn có khả năng cải tạo tốt và đóng góp thêm cho xã hội.
Qua các căn cứ nêu trên, có thể thấy rằng bị cáo B. hoàn toàn có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP), nên kính mong HĐXX xem xét, áp dụng.
IV. Kết luận
Từ những lập luận nêu trên, tôi kính mong Hội đồng xét xử xem xét, quyết định các nội dung sau:
– Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, h, i, s, khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo Nguyễn Tạ Gia B.;
– Quyết định cho bị cáo Nguyễn Tạ Gia B. được hưởng án treo căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP).
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Tôi thiết nghĩ, căn cứ vào độ tuổi của bị cáo B. cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội, việc phải chịu trách nhiệm hình sự đã là một sự trừng phạt thích đáng cho hành vi của bị cáo. Việc áp dụng án treo, với thời gian thử thách tại địa phương cũng đủ mang tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm, thể hiện được sự khoan hồng pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận các đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo B..
Trên đây là một số ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tạ Gia B. trong vụ án.
Xin chân thành cảm ơn./.
Ký tên
LS. NGUYỄN DUY ANH
5. Những điểm chung trong các bài bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt
Qua 03 bài bào chữa thực tế nêu trên, có thể rút ra một số điểm chung về cách luật sư A+ tiếp cận và xây dựng lập luận khi xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Thứ nhất, luật sư luôn thừa nhận tội danh nếu có đủ căn cứ, thay vì phủ nhận tội danh một cách thiếu căn cứ. Cách tiếp cận này tạo uy tín trước Hội đồng xét xử và tập trung toàn bộ lập luận vào việc giảm nhẹ hình phạt thay vì tranh cãi về tội danh.
- Thứ hai, mỗi bài bào chữa đều khai thác triệt để các tình tiết giảm nhẹ theo cả khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Khoản 1 là các tình tiết được pháp luật liệt kê cụ thể, còn khoản 2 là các tình tiết khác do Tòa án xem xét dựa trên hoàn cảnh thực tế, và đây thường là phần luật sư có nhiều dư địa lập luận nhất.
- Thứ ba, yếu tố nhân thân và hoàn cảnh cá nhân của bị cáo được trình bày chi tiết và gắn với chứng cứ cụ thể. Không chỉ nêu suông mà phải có tài liệu kèm theo như giấy chứng nhận bệnh, đơn xin bãi nại, xác nhận của cơ quan công tác, giấy tờ về thân nhân liệt sĩ…
- Thứ tư, phần đề nghị cuối bài luôn nêu rõ căn cứ pháp lý cụ thể và yêu cầu cụ thể về mức hình phạt hoặc loại hình phạt mong muốn, tránh đề nghị chung chung.
6. Luật sư bào chữa cho bị cáo
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:
- Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
- Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
- Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
- Luật sư bảo vệ tại tòa án.
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
7. Các câu hỏi thường gặp
Dưới đây là tổng hợp các câu hỏi thường gặp nhất về bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt, được Luật sư A+ giải đáp dựa trên quy định pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn.
7.1. Bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt có bắt buộc phải có luật sư viết không?
Không bắt buộc. Bị cáo có thể tự bào chữa và tự trình bày các tình tiết giảm nhẹ trước Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, một bài bào chữa được luật sư chuẩn bị chuyên nghiệp sẽ có lập luận pháp lý chặt chẽ hơn, khai thác đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hơn và có căn cứ dẫn chiếu điều luật cụ thể, từ đó tăng khả năng Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị giảm nhẹ.
7.2. Những tình tiết nào thường được dùng để xin giảm nhẹ hình phạt?
Các tình tiết phổ biến nhất bao gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS); tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả (điểm b); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i); người phạm tội là phụ nữ có thai (điểm n); phạm tội do lạc hậu (điểm m). Ngoài ra, bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoặc gia đình có công với cách mạng cũng thường được dùng làm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
7.3. Bài bào chữa có thể giúp bị cáo được hưởng án treo không?
Có thể, nếu bị cáo đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 65 BLHS và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP: bị phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định và xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Bài bào chữa có vai trò quan trọng trong việc trình bày và chứng minh các điều kiện này trước Hội đồng xét xử.
7.4. Luật sư cần chuẩn bị gì trước khi viết bài bào chữa?
Luật sư cần nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, nắm rõ cáo trạng và các tình tiết đã được Viện kiểm sát ghi nhận. Quan trọng hơn, luật sư cần làm việc trực tiếp với bị cáo và gia đình để thu thập đầy đủ các tài liệu chứng minh tình tiết giảm nhẹ như giấy tờ y tế, đơn xin bãi nại của bị hại, xác nhận của cơ quan công tác, giấy tờ về nhân thân gia đình và các chứng cứ về việc bồi thường thiệt hại. Càng có nhiều tài liệu chứng minh cụ thể, bài bào chữa càng có sức thuyết phục cao hơn.
Trên đây là 03 bài bào chữa giảm nhẹ hình phạt do chính Luật sư A+ biên soạn và sử dụng tại các phiên Tòa. Nếu còn có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn.
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


