Home » Tư vấn doanh nghiệp » Có được bán đất cho người nước ngoài hay không? Quy định mới nhất về quyền sở hữu bất động sản tại Việt Nam

Có được bán đất cho người nước ngoài hay không? Quy định mới nhất về quyền sở hữu bất động sản tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề bán đất cho người nước ngoài luôn là chủ đề được quan tâm khi thị trường bất động sản mở rộng và hội nhập sâu rộng. Bài viết dưới đây của Luật A+ sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định mới nhất về quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài, từ đó tránh rủi ro pháp lý khi giao dịch.

1. Có được bán đất cho người nước ngoài hay không?

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu của người nước ngoài về việc sở hữu hoặc đầu tư bất động sản tại Việt Nam ngày càng tăng. Tuy nhiên, vấn đề có được bán đất cho người nước ngoài hay không lại cần được xem xét cẩn trọng dưới góc độ pháp lý, bởi đất đai tại Việt Nam là loại tài sản đặc biệt chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của Luật Đất đai.

Trước hết, theo Khoản 1, Điều 3, Văn bản hợp nhất số 30/VBHN-VPQH quy định: 

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

  1. Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.

…”

Quy định này xác định rõ phạm vi của “người nước ngoài” – tức là những cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam, hoặc không có quốc tịch nhưng đang sinh sống hoặc làm việc hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, người nước ngoài không phải là chủ thể mang quốc tịch Việt Nam nên không mặc nhiên được hưởng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật Việt Nam.

Đồng thời, Điều 4 Luật Đất đai 2024, quy định về các đối tượng là người sử dụng đất ở Việt Nam bao gồm:

“Điều 4. Người sử dụng đất

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; nhận quyền sử dụng đất; thuê lại đất theo quy định của Luật này, bao gồm.

1. Tổ chức trong nước gồm:

a) Cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, đơn vị vũ trang nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;

b) Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);

2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân);

4. Cộng đồng dân cư;

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.

6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;

7. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.”

Theo đó, Nhà nước chỉ công nhận quyền sử dụng đất đối với các nhóm chủ thể nhất định, bao gồm: 

  • Tổ chức trong nước, 
  • Cá nhân trong nước, 
  • Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, 
  • Cộng đồng dân cư, 
  • Tổ chức tôn giáo, 
  • Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, 
  • Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 
  • Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. 

Trong danh sách này không có “người nước ngoài”. Điều đó đồng nghĩa, người nước ngoài không thuộc nhóm chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hay công nhận quyền sử dụng đất.

Từ hai căn cứ pháp lý nêu trên có thể thấy, người nước ngoài không có quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Do đó, việc chuyển nhượng, bán đất hoặc sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nước ngoài là hành vi không được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và đại diện chủ sở hữu. Chính vì vậy, mọi giao dịch liên quan đến việc “bán đất cho người nước ngoài” đều không hợp pháp, không được công chứng hoặc đăng ký sang tên.

Do vây, theo quy định của pháp luật hiện hành, người nước ngoài không được mua hay sở hữu đất tại Việt Nam. Trong trường hợp có nhu cầu đầu tư hoặc sử dụng đất, người nước ngoài chỉ có thể thông qua hình thức gián tiếp như góp vốn, thuê đất, hoặc đầu tư thông qua tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chứ không thể trực tiếp mua bán đất như công dân Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, người nước ngoài không được mua hay sở hữu đất tại Việt Nam
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người nước ngoài không được mua hay sở hữu đất tại Việt Nam

2. Người nước ngoài có được đứng tên trên sổ đỏ hay không?

Trong thực tiễn, nhiều người nước ngoài sinh sống lâu dài tại Việt Nam có mong muốn sở hữu đất hoặc đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). 

Căn cứ Điều 4 Luật Đất đai 2024, quy định: 

“Điều 4. Người sử dụng đất

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; nhận quyền sử dụng đất; thuê lại đất theo quy định của Luật này, bao gồm.

1. Tổ chức trong nước gồm:

a) Cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, đơn vị vũ trang nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;

b) Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);

2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân);

4. Cộng đồng dân cư;

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.

6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;

7. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.”

Theo đó, người sử dụng đất tại Việt Nam chỉ bao gồm các chủ thể như: tổ chức trong nước, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. Trong danh sách này không có người nước ngoài. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài không được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, nên không đủ điều kiện để đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Về bản chất, quyền đứng tên trên sổ đỏ gắn liền với quyền sử dụng đất – mà quyền này chỉ phát sinh khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Do người nước ngoài không thuộc nhóm chủ thể được hưởng các quyền này, nên họ không thể tự mình đứng tên hoặc sở hữu hợp pháp quyền sử dụng đất tại Việt Nam.

Từ những căn cứ trên có thể khẳng định, pháp luật Việt Nam không cho phép người nước ngoài đứng tên trực tiếp trên sổ đỏ. Nếu muốn đầu tư, người nước ngoài chỉ có thể thực hiện thông qua pháp nhân là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc thuê đất để sử dụng theo hình thức được pháp luật cho phép. Điều này bảo đảm vừa thu hút đầu tư, vừa duy trì nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.

3. Chủ thể nước ngoài nào được sử dụng đất tại Việt Nam

Trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam, không phải mọi chủ thể nước ngoài đều có quyền sử dụng đất. Luật Đất đai 2024 đã xác định rõ các trường hợp cụ thể mà chủ thể nước ngoài được phép sử dụng đất, bảo đảm thống nhất với chính sách quản lý chặt chẽ về chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia.

Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định về các chủ thể là người sử dụng đất ở Việt Nam bao gồm:

“Điều 4. Người sử dụng đất

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; nhận quyền sử dụng đất; thuê lại đất theo quy định của Luật này, bao gồm.

1. Tổ chức trong nước gồm:

a) Cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, đơn vị vũ trang nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;

b) Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);

2. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân);

4. Cộng đồng dân cư;

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.

6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;

7. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.”

Theo đó, các chủ thể nước ngoài có quyền sử dụng đất tại Việt Nam như sau: 

Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao

Cụ thể, theo khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai 2024: 

“Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.” 

Nhóm chủ thể này được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc theo nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ quốc tế.

Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài

Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định: 

“Điều 4. Người sử dụng đất.

…

  1. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.”

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ người gốc Việt đã mang quốc tịch nước ngoài mới được xem là người nước ngoài vì họ “mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài.” Trong khi đó, công dân Việt Nam đang định cư ở nước ngoài vẫn là người Việt Nam, không phải người nước ngoài.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng thuộc nhóm được phép sử dụng đất tại Việt Nam. Khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định: 

“Điều 4. Người sử dụng đất.

…

  1. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.”

Các tổ chức này có thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hoặc công nhận quyền sử dụng đất tùy theo hình thức đầu tư, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư đồng thời thu hút vốn, công nghệ, và kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Có thể thấy, theo Luật Đất đai 2024, chỉ có ba nhóm chủ thể nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam gồm: (1) tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; (2) người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (mang quốc tịch nước ngoài); và (3) tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. 

Quy định này thể hiện chính sách mở cửa có kiểm soát của Việt Nam, vừa tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài, vừa bảo đảm chặt chẽ về chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia.

Theo Luật Đất đai 2024, chỉ có ba nhóm chủ thể nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam
Theo Luật Đất đai 2024, chỉ có ba nhóm chủ thể nước ngoài được quyền sử dụng đất tại Việt Nam

4. Người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Việc cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam là bước tiến quan trọng trong chính sách mở cửa của Nhà nước, thể hiện nỗ lực hội nhập quốc tế nhưng vẫn bảo đảm an ninh, chủ quyền và trật tự quản lý đất đai. Theo đó, quyền sở hữu của người nước ngoài được quy định chặt chẽ nhằm cân bằng giữa thu hút đầu tư và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Theo Khoản 1 Điều 17 Luật Nhà ở 2023: 

“Điều 17. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở và hình thức được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

  1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

…”

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam được chia thành ba nhóm đối tượng cụ thể như sau:

Tổ chức kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án 

  • Đây là các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và các quy định pháp luật có liên quan.
  • Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 17 Luật Nhà ở 2023, đối tượng này được phép sở hữu nhà ở do chính họ đầu tư xây dựng trong phạm vi dự án được chấp thuận.

Như vậy, chỉ những tổ chức đầu tư hợp pháp theo dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mới có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Tổ chức nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam 

  • Bao gồm các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
  • Theo điểm b khoản 1 Điều 17 Luật Nhà ở 2023, nhóm này được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam trong phạm vi cho phép của pháp luật.

Điều này phản ánh chính sách linh hoạt, tạo điều kiện cho các tổ chức nước ngoài ổn định hoạt động, đồng thời khuyến khích đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam.

Cá nhân nước ngoài 

  • Là công dân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh.
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 17 Luật Nhà ở 2023, cá nhân nước ngoài chỉ cần có giấy tờ hợp lệ chứng minh việc nhập cảnh hợp pháp là có thể được xem xét quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Quy định này góp phần thu hút chuyên gia, nhà đầu tư, người lao động trình độ cao nước ngoài sinh sống, làm việc và gắn bó lâu dài với Việt Nam.

Việc cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam vừa thể hiện chính sách hội nhập, thu hút đầu tư, vừa khẳng định nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội và chủ quyền lãnh thổ. Quy định này cho thấy sự cân bằng hợp lý giữa lợi ích phát triển kinh tế và bảo vệ lợi ích quốc gia.

5. Nghĩa vụ của chủ thể nước ngoài khi sở hữu nhà ở

Khi người nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, họ không chỉ được hưởng các quyền hợp pháp tương ứng mà còn phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. 

Cụ thể tại Khoản 1, Điều 11 Luật Nhà ở 2023, áp dụng tương tự đối với chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và chủ thể nước ngoài:

“Điều 11. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở

1. Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây:

a) Sử dụng nhà ở đúng mục đích; lập và lưu trữ hồ sơ nhà ở thuộc sở hữu của mình;

b) Thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm vệ sinh, môi trường, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật khi bán, cho thuê mua, cho thuê, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở; đối với giao dịch nhà ở là tài sản chung của vợ chồng thì còn phải thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Trường hợp mua bán nhà ở có thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 165 của Luật này thì phải trả lại nhà ở khi hết thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.

Trường hợp Luật Đất đai có quy định khác về nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thực hiện theo quy định đó;

d) Thực hiện đúng quy định của pháp luật và không được gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác khi bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở; trường hợp mua bán nhà ở có thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 165 của Luật này thì còn phải thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên;

đ) Mua bảo hiểm cháy, nổ đối với nhà ở thuộc trường hợp bắt buộc phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm;

e) Chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về việc xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về nhà ở, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, di dời, phá dỡ nhà ở;

g) Có trách nhiệm để các bên có liên quan và người có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, bảo trì hệ thống trang thiết bị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phần diện tích thuộc sở hữu chung, sử dụng chung;

h) Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước khi được công nhận quyền sở hữu nhà ở, khi thực hiện giao dịch về nhà ở và trong quá trình sử dụng nhà ở theo quy định của pháp luật;

i) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

…”

Theo đó các chủ thể nước ngoài cần đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau: 

  • Nghĩa vụ sử dụng và quản lý nhà ở: Chủ sở hữu nhà ở nước ngoài phải sử dụng nhà ở đúng mục đích, lập và lưu trữ hồ sơ nhà ở thuộc quyền sở hữu của mình, đảm bảo không sử dụng sai công năng hoặc trái quy hoạch. Điều này giúp cơ quan quản lý dễ dàng kiểm soát, đồng thời bảo đảm việc sở hữu nhà ở của người nước ngoài phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam.
  • Nghĩa vụ bảo đảm an toàn, trật tự và môi trường: Chủ sở hữu nước ngoài phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh, môi trường và an toàn xã hội.Quy định này nhằm đảm bảo nhà ở của người nước ngoài không gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng dân cư và trật tự đô thị.
  • Nghĩa vụ khi thực hiện giao dịch nhà ở: Khi bán, cho thuê, tặng cho, để thừa kế, thế chấp hoặc góp vốn bằng nhà ở, chủ sở hữu nước ngoài phải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Điều này bảo đảm tính minh bạch trong các giao dịch dân sự và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
  • Nghĩa vụ khi bảo trì, cải tạo hoặc phá dỡ nhà ở: Chủ sở hữu nước ngoài có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của pháp luật khi bảo trì, cải tạo hoặc phá dỡ nhà ở, đồng thời không được gây thiệt hại đến lợi ích công cộng hay quyền của người khác.
  • Nghĩa vụ về bảo hiểm và tài chính: Chủ sở hữu nước ngoài phải mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với nhà ở thuộc diện quy định và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Có thể thấy, khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam, chủ thể nước ngoài phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ về sử dụng, quản lý, an toàn, giao dịch và tài chính theo quy định của Luật Nhà ở 2023. Việc tuân thủ đúng các nghĩa vụ này không chỉ thể hiện sự tôn trọng pháp luật Việt Nam mà còn là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính chủ sở hữu trong quá trình sử dụng và giao dịch nhà ở.

Khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam, chủ thể nước ngoài phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ về sử dụng, quản lý, an toàn, giao dịch và tài chính theo quy định
Khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam, chủ thể nước ngoài phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ về sử dụng, quản lý, an toàn, giao dịch và tài chính theo quy định

6. Tư vấn thành lập doanh nghiệp FDI

Luật A+ là đơn vị tư vấn pháp lý chuyên sâu trong lĩnh vực doanh nghiệp, đặc biệt am hiểu về thủ tục thành lập, tổ chức quản trị và triển khai hoạt động cho Công ty/Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, nắm vững quy định pháp luật và thực tiễn đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam, chúng tôi cam kết mang đến giải pháp pháp lý tối ưu, an toàn và hiệu quả cho từng dự án đầu tư.

Dịch vụ thành lập Công ty/Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Luật A+ bao gồm:

  • Tư vấn lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp (thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, góp vốn/mua cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh…);
  • Tư vấn điều kiện và thủ tục pháp lý cho từng ngành nghề kinh doanh, tỷ lệ sở hữu vốn, vốn pháp định và các điều kiện đặc thù;
  • Soạn thảo, rà soát và hoàn thiện hồ sơ: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty và các văn bản liên quan;
  • Đại diện làm việc với cơ quan nhà nước để thực hiện các thủ tục cấp phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp và các thủ tục sau thành lập;
  • Tư vấn và hỗ trợ pháp lý sau khi thành lập: đăng ký thuế, mở tài khoản vốn đầu tư, tư vấn lao động, hợp đồng, thuế – kế toán và các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động.

Lý do chọn Luật A+:

Chuyên sâu pháp lý, am hiểu môi trường đầu tư tại Việt Nam

Đội ngũ luật sư tại Luật A+ là những chuyên gia giàu kinh nghiệm trong tư vấn pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi am hiểu sâu sắc các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến đầu tư – kinh doanh, đặc biệt là các thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Luật A+ nắm rõ quy trình làm việc của cơ quan quản lý nhà nước, từ cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, đến xử lý các vướng mắc pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động.

Thấu hiểu nhu cầu và thách thức của nhà đầu tư

Luật A+ đồng hành cùng nhà đầu tư không chỉ bằng kiến thức pháp luật mà còn bằng sự thấu cảm với những khó khăn khi gia nhập một thị trường mới: áp lực về thời gian, rào cản ngôn ngữ, sự khác biệt pháp lý và văn hóa kinh doanh. Chúng tôi luôn lắng nghe, phân tích tình hình và đưa ra giải pháp phù hợp, giúp nhà đầu tư tối ưu nguồn lực, giảm thiểu rủi ro và nhanh chóng hòa nhập môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Cam kết đồng hành lâu dài

Với Luật A+, dịch vụ tư vấn không chỉ dừng lại ở việc hoàn tất thủ tục thành lập. Chúng tôi cam kết đồng hành cùng nhà đầu tư nước ngoài trong suốt hành trình kinh doanh – từ giai đoạn chuẩn bị, mở rộng quy mô, điều chỉnh vốn, đến tái cấu trúc và bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Sự gắn bó lâu dài giúp chúng tôi đảm bảo nhà đầu tư luôn được hỗ trợ kịp thời, an toàn pháp lý và phát triển bền vững tại Việt Nam.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định, pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép bán đất cho người nước ngoài, nhằm bảo đảm nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn mở rộng cơ chế cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở, thuê đất hoặc đầu tư thông qua tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với chính sách hội nhập nhưng có kiểm soát. Nếu bạn cần tư vấn chi tiết về giao dịch bất động sản có yếu tố nước ngoài, Luật A+ sẵn sàng đồng hành, giúp bạn đảm bảo tuân thủ pháp luật và hạn chế tối đa rủi ro pháp lý.