Home » Báo chí viết về A+ » MUA TRÁI PHIẾU RỒI, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC TÀI SẢN KHÔNG? – Báo Bảo Vệ Pháp Luật

Tin liên quan

MUA TRÁI PHIẾU RỒI, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC TÀI SẢN KHÔNG? – Báo Bảo Vệ Pháp Luật

Bạn đọc Vũ Nam (Hà Nội): Thời gian qua, có nhiều trường hợp người dân đến gửi tiền tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng nhưng được tư vấn, định hướng chuyển sang mua trái phiếu với lãi suất cao hơn. Điều này có ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi của người dân? Nếu đã trót mua trái phiếu thì có đòi lại được tài sản của mình hay không?

MUA TRÁI PHIẾU RỒI, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC TÀI SẢN KHÔNG? - Báo Bảo Vệ Pháp Luật

Trả lời:

Luật sư Phùng Thị Huyền – Công ty Luật TNHH A+ cho biết, theo khoản 3 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành. Còn tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP, trái phiếu doanh nghiệp được định nghĩa là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 1 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành.

Có thể hiểu đơn giản hơn, trái phiếu là giấy tờ xác nhận doanh nghiệp phát hành trái phiếu nợ người mua trái phiếu số tiền gốc, lãi suất và điều kiện khác theo trái phiếu. Người mua trái phiếu là chủ nợ của doanh nghiệp phát hành. Hiểu một cách đơn giản nhất, mua trái phiếu tức là cá nhân đó đang cho một doanh nghiệp vay tiền.

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng. Như vậy, so với trái phiếu, về cơ bản gửi tiết kiệm cũng là một hình thức cho vay, người gửi cho ngân hàng vay tiền trong một thời hạn nhất định. Về cơ bản, người nắm giữ trái phiếu hay nắm giữ sổ tiết kiệm đều có thể hiểu nôm na là “chủ nợ, người cho vay”. 

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trái phiếu không phải tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, hai loại này hoàn toàn khác nhau, có cơ chế riêng. Một trong những tiêu chí xác định sự khác nhau giữa chúng:

Đơn cử như tiền gửi tiết kiệm có thể rút được nhưng sẽ bị mất tiền lãi hoặc bị phạt. Trái phiếu không rút ra được nhưng có thể mua bán trên thị trường thứ cấp.

Trong trường hợp doanh nghiệp thanh toán không đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi và các điều kiện, điều khoản của trái phiếu thành doanh nghiệp có thể đàm phán với trái chủ để thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác và được trái chủ đồng ý. Ngoài ra, theo điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định số 65/2022/NĐ-CP thì doanh nghiệp phát hành có thể kéo dài kỳ hạn thêm 2 năm nhưng nếu trái chủ không đồng ý thay đổi kỳ hạn thì phải đàm phán với trái chủ, trường hợp trái chủ không đồng ý phương án đàm phán thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng điều kiện ban đầu.

Nếu quá trình trước, trong, sau khi mua trái phiếu và khi đòi nợ mà thấy doanh nghiệp có nhiều điểm gian dối thì nhà đầu tư cần tố cáo tới cơ quan Công an. Nếu cơ quan Công an vào cuộc và chứng minh được một chuỗi hành vi gian dối, thậm chí chứng minh được lý do vì sao doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và có sai phạm trong sử dụng tiền huy động được… rất có thể hành vi phát hành trái phiếu đó của doanh nghiệp có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Rất nhiều nhà đầu tư chờ đợi được trả tiền từ năm này qua năm khác vì tin vào những lời hứa hẹn, những buổi họp bàn, những email qua lại… Giải pháp trong những tình huống này (nếu không có dấu hiệu hình sự) là nhà đầu tư nên khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền. Phán quyết có hiệu lực của Tòa án sẽ có ý nghĩa bắt buộc thi hành, bao gồm cả cách thức buộc thi hành án nếu doanh nghiệp phát hành trái phiếu không tự nguyện chi trả.

Tác giả: B.B.Đ

Trích nguồn: Báo Bảo Vệ Pháp Luật