Home » Bài viết pháp luật » Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai có tài sản trên đất

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai có tài sản trên đất

Khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai lại không biết cách giải quyết tranh chấp tài sản trên đất như thế nào? Sau đây Luật A+ sẽ tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai có tài sản trên đất.

1. Tranh chấp tài sản trên đất là gì?

Là tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ đối với tài sản gắn liền với đất (nhà và các tài sản khác gắn liền với đất) của các chủ thể. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 tài sản gắn liền với đất bao gồm:

  • Nhà ở, công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà ở;
  • Nhà ở riêng lẻ theo quy định của Luật Nhà ở;
  • Công trình xây dựng khác;
  • Cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng hoặc vật khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp đất đai có tài sản trên đất 01
Tranh chấp đất đai có tài sản trên đất

2. Đơn khởi kiện tranh chấp tài sản trên đất.

Mẫu số 23-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……(1), ngày….. tháng …… năm…….

 

ĐƠN KHỞI KIỆN

                Kính gửi: Toà án nhân dân (2)……………………………………

Người khởi kiện: (3)……………………………………………………………………………………

Địa chỉ: (4) ……………………………………………………………………………………

Số điện thoại: …………………(nếu có); số fax: ………………….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: …………………………………………………. (nếu có)

Người bị kiện: (5)……………………………………………………………………………………

Địa chỉ (6) ……………………………………………………………………………………

Số điện thoại: …………………(nếu có); số fax: ………………….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: …………………………………………………. (nếu có)

Người có quyền, lợi ích được bảo vệ (nếu có) (7)………………………………………………………..

Địa chỉ: (8)……………………………………………………………………………………

Số điện thoại: …………………(nếu có); số fax: …………………(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử : …………………………………………(nếu có)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) (9)………………………………………………………

Địa chỉ: (10) ……………………………………………………………………………………

Số điện thoại: …………………(nếu có); số fax: ………………….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: ..………………………..………………. (nếu có)

Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây: (11)……………………………………………………

Người làm chứng (nếu có) (12)……………………………………………………………………………………

Địa chỉ: (13) ……………………………………………………………………………………

Số điện thoại: …………………(nếu có); số fax: ………………….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: ……………………………….………… (nếu có).

Danh mục tài liệu, chứng kèm theo đơn khởi kiện gồm có: (14)………………………………………….

1……………………………………………………………………………………

2……………………………………………………………………………………

(Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án)

(15) ……………………………………………………………………………………

           Người khởi kiện (16)

3. Các tình huống tranh chấp đất đai có tài sản trên đất

3.1. Vụ án tranh chấp tài sản gắn liền với đất của bà S và ông T ở Sóc Trăng

Nội dung vụ án:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị S trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 245,2m2, thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là của ông bà để lại và mẹ bà là bà Thạch Thị Cà H nhận chuyển nhượng của ông Thạch P diện tích khoản 1.200m2 vào năm 1995, năm 2008 mẹ bà được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.495,3m2; năm 2009, mẹ bà tách phần đất trên thành 6 thửa 131, 132, 133, 134, 135 và 136, trong đó ông Thạch H được mẹ tặng cho thửa 136 diện tích 185,9m2, còn bà được mẹ tặng cho thửa 135 diện tích 245,2m2, bà và ông Thạch H đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào năm 2009. Hiện nay, ông Thạch H đã lấn chiếm hết thửa đất 135 của bà; nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Thạch H, bà Thạch Thị T di dời các tài sản có trên đất và trả lại phần đất đã lấn chiếm tại thửa 135, diện tích 245,2m2, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; bà đồng ý bồi thường cho vợ chồng ông Thạch H, bà Thạch Thị T các tài sản gồm: 01 cây nước bơm tay, 02 cây dừa, 01 cây ổi, 01 cây quách.

Quyết định của Tòa:

Xét phần đất tranh chấp diện tích 245,2m2 thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc là của bà Thạch Thị Cà H nhận chuyển nhượng của ông Thạch P vào năm 1995, sau đó tách thành nhiều thửa trong đó có thửa 135 bà Thạch Thị Cà H làm thủ tục tặng cho bà Thạch Thị S, thửa 136 bà Thạch Thị Cà H làm thủ tục tặng cho ông Thạch H, còn thửa 131 và 134 thì bà Thạch Thị Cà H đang quản lý sử dụng. Khi làm thủ tục tách thửa và tặng cho bà Thạch Thị S, ông Thạch H thì ông Thạch H không có tranh chấp hay khiếu nại gì.

Bà Thạch Thị S khởi kiện yêu cầu ông Thạch H phải di dời tài sản trên đất trả lại cho bà phần đất diện tích 245,2m2 thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh do bà đứng tên quyền sử dụng, yêu cầu của bà Thạch Thị S được chứng minh qua hợp đồng tặng cho giữa bà Thạch Thị Cà H với bà Thạch Thị S đối với thửa đất 135 và bà Thạch Thị S đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời các anh chị em của bà Thạch Thị S cũng thừa nhận sự việc tặng cho này.

Ông Thạch H cho rằng ông có hùn với bà Thạch Thị Cà H bằng 30 chỉ vàng để mua phần đất của ông Thạch P nhưng cho bà Thạch Thị Cà H đứng tên quyền sử dụng nên ông yêu cầu được hưởng 600m2 trong đó có thửa 135 và 136, việc bà Thạch Thị Cà H tự ý tách thửa tặng cho bà Thạch Thị S thửa đất 135 không được sự đồng ý của ông là không đúng quy định. Xét thấy, theo giấy tay chuyển nhượng thành quả lao động ngày 15/6/1995 giữa ông Thạch P với bà Thạch Thị Cà H (BL 127) chỉ thể hiện ông Thạch P có nhận của bà Thạch Thị Cà H giá trị chuyển nhượng đất 02 lần bằng 47 chỉ vàng, không có nội dung nào thể hiện có nhận vàng từ ông Thạch H, ông Thạch H cũng không cung cấp được và thừa nhận không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông có giao 30 chỉ vàng cho ông Thạch P để trả tiền mua đất; đối với ông Thạch P ban đầu có lời khai cho rằng nhận vàng 02 lần trực tiếp từ bà Thạch Thị Cà H (BL 54), sau đó lại có lời khai cho rằng có nhận của ông Thạch H số vàng bằng 30 chỉ (BL 560) nhưng ông không có chứng cứ gì để chứng minh, ông cũng không biết số vàng này của ai và việc hùn mua đất của ông Thạch H như thế nào, xét lời khai của ông Thạch P có sự mâu thuẫn, không khách quan nên không được xem xét là chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án. Mặt khác, khi bà Thạch Thị Cà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó tách phần đất mua của ông Thạch P làm nhiều thửa và làm thủ tục tặng cho ông Thạch H thửa đất 135 thì ông Thạch H cũng không có ý kiến tranh chấp hay khiếu nại gì đến khi nguyên đơn phát sinh tranh chấp thì ông Thạch H mới cho rằng việc bà Thạch Thị Cà H tách thửa không có sự đồng ý của ông, nên việc nại ra này của ông Thạch H là không có cơ sở để chấp nhận.

Xét kháng cáo của ông Thạch H yêu cầu cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị S; công nhận phần đất diện tích 245,2m2 thuộc thửa 135, tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông nhưng ông không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của ông nên không có căn cứ để chấp nhận.

Phần đất thửa 135 được chỉnh trang tư đứng tên bà Thị Thạch Siêng và ông Kiên L nhưng cấp sơ thẩm chỉ công nhận cho bà Thạch Thị S là thiếu sót; cấp sơ thẩm buộc bà Thạch Thị S bồi thường cho bị đơn 01 cây nước bơm tay và các cây trái trên đất nhưng không công nhận cho nguyên đơn được quyền sử dụng các tài sản này là thiếu sót; tuy nhiên những thiếu sót này của cấp sơ thẩm không làm thay đổi nội dung vụ án, cấp phúc thẩm cần sửa quyết định của án sơ thẩm.

Các đương sự thừa nhận trong quá trình sử dụng thửa đất 135 thì bị đơn có đổ đất sang lấp trên thửa 135 bằng 04 xe, mỗi xe bằng 06m3, tổng cộng là 24m3, tuy tại cấp sơ thẩm bị đơn không yêu cầu phần công sang lấp này, từ đó cấp sơ thẩm không xem xét, nhưng tại cấp phúc thẩm bị đơn có yêu cầu được xem xét và được phía nguyên đơn thừa nhận đồng ý bồi thường cho bị đơn 24m3 đất theo biên bản định giá ngày 18/9/2020 bằng số tiền 2.880.000 đồng, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy sự tự nguyện này của các đương sự không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật nên được công nhận, buộc bà Thạch Thị S và ông Kiên L hoàn trả giá trị đất sang lấp trên thửa đất 135 cho ông Thạch H và bà Thạch Thị T bằng 2.880.000 đồng. Hội đồng xét xử cũng cần xem xét công sức tôn tạo, giữ gìn đất và chi phí di dời tài sản cho ông Thạch H và bà Thạch Thị T mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự; buộc bà Thạch Thị S và ông Kiên L hoàn trả công sức tôn tạo, giữ gìn đất và chi phí di dời tài sản cho ông Thạch H và bà Thạch Thị T bằng 20.000.000 đồng.

3.2 Bồi thường thiệt hại do chặt cây trồng trên đất người khác

Nội dung vụ án:

Tại đơn khởi kiện và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lộc Văn S trình bày: Năm 2000 vợ chồng ông trồng 160 cây hồi tại khu đất rừng Đ, thuộc tiểu khu 479, Thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn, sau đó hàng năm vợ chồng ông tiếp tục trồng dặm thêm và chăm sóc những cây đã trồng, quá trình ông trồng hồi và chăm sóc hồi không có ai đến tranh chấp, đến năm 2014 cây hồi của ông bắt đầu sai quả và được thu hoạch, từ đó hàng năm ông vẫn tiếp tục chăm sóc và hái quả, quá trình trồng và chăm sóc cây hồi ông chưa biết đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai hay chưa, ông thấy đất bỏ hoang nên ông mang cây hồi đến trồng. Đến ngày 20/02/2019 ông phát hiện cây hồi của gia đình ông bị chặt phá, ông đã đi báo cho Trưởng thôn, Công an viên và Trạm Biên phòng biết để lập biên bản hiện trường về việc bị chặt phá cây hồi, qua kiểm đếm kết quả có 99 cây hồi bị chặt, cây to nhất có đường kính 21cm, cây nhỏ nhất là 02 cm. Sự việc sau đó được chuyển đến Công an huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn để giải quyết. Qua điều tra xác M biết được ông Nông Văn M là người đã chặt phá cây hồi của gia đình ông và ông Nông Văn M đã thừa nhận được chặt những cây hồi của ông. Trong 99 cây hồi ông Nông Văn M đã chặt có 5 cây nằm trong diện tích đất ông Nông Văn M đã được nhà nước giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng, còn 94 cây nằm ngoài diện tích đất ông Nông Văn M. Ngoài ra hiện nay trên đất còn có 148 cây hồi nằm trong diện tích đất ông Nông Văn M đã được giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng. Kết quả điều tra xác M và kết luận không cấu thành tội phạm. Nay anh Lộc Văn S khởi kiện yêu cầu ông Nông Văn M phải bồi thường toàn bộ số cây hồi đã chặt là 106 cây và số cây hồi còn sống anh đã trồng trên đất của ông M là 154 cây, với giá trị 2.000.000 đồng/cây, ông M được sở hữu 154 cây hồi anh đã trồng.

Bị đơn ông Nông Văn M trình bày:

Năm 1998 vợ chồng ông được Nhà nước giao quyền quản lý và sử dụng rừng và đất trồng rừng theo quyết định số 363 ngày 13/11/1998, tại tiểu khu 479 với 02 lô đất là lô số 237 và lố số 249, lô số 237 có tên địa danh là Đông Lủng được giao với diện tích 11,4 ha loại đất rừng tự nhiên và đất trồng rừng. Từ khi được Nhà nước giao quyền quản lý sử dụng rừng vợ chồng ông quản lý sử dụng liên tục. Đến năm 2000 ông Lộc Văn S và một số người khác có trồng hồi trên đất của ông, ông có nhắc nhở và yêu cầu di dời đi nơi khác trồng, nhưng chỉ nói mồm với nhau, không đi báo chính quyền đến lập biên bản. Ông Lộc Văn S trồng khoảng 150 cây hồi tại khu đất rừng Đông Lủng, thuộc tiểu khu 479, ngay sau khi ông Lộc Văn S trồng, ông đã có nhắc nhở với bố của ông S và yêu cầu ông Lộc Văn S đem hồi đi chỗ khác trồng, nhưng ông Lộc Văn S cười và nói sổ xanh Nhà nước cấp cho ông là không có giá trị pháp lý, nếu khẳng định được sổ xanh có giá trị pháp lý thì ông Lộc Văn S không cần lấy những cây hồi đã trồng. Năm 2016 ông S tiếp tục trồng hồi và ông cũng đã đến nhắc nhở là không được trồng trên đất của ông, nếu không ông sẽ chặt hết. Vào khoảng năm 2018 ông đi lên rừng phát cây để chia đất rừng cho các con, ông đã chặt những cây hồi có trên đất của ông. Đến đầu năm 2019 ông Lộc Văn S làm đơn gửi đến Trưởng thôn, Trạm biên phòng và Công an huyện yêu cầu điều tra xác M việc bị chặt phá cây hồi, ông đã nhận được giấy mời của Ủy ban nhân dân (UBND) xã, yêu cầu đến UBND xã làm việc thì ông mới biết được ông Lộc Văn S, yêu cầu ông bồi thường về việc chặt phá cây hồi. Quá trình xác M điều tra ông cũng thừa nhận có được chặt những cây hồi nằm trên diện tích đất ông đã được nhà nước cấp sổ bìa xanh, về số lượng chặt bao nhiêu cây ông không biết. Ông đồng ý với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và đồng ý với kết quả thẩm định, xác định về vị trí cây hồi, tổng số cây hồi đã bị chặt và những cây còn sống, đồng thời ông cũng đồng ý kết quả định giá cây hồi ngày 14, 15/01/2021 của Tòa án huyện Đình Lập. Nhưng ông không đồng ý việc xác định: Cây Hồi nằm trong danh giới lô đất 238 và thửa đất 232 như biên bản thẩm định đã xác định, vì toàn bộ số cây hồi khi xem xét thẩm định đã xác định được đều nằm trong lô đất 237 không có lô 238 và thửa đất 232. Gia đình ông vẫn quản lý sử dụng toàn bộ cả khu đất có cây hồi. Ông thừa nhận những cây hồi trên đất không phải do ông trồng. Ông cho rằng ông Lộc Văn S không có đất ở khu vực này, chưa được sự đồng ý của ông đã tự ý trồng hồi xuống đất của ông, khi trồng ông đã có nhắc nhở yêu cầu ông Lộc Văn S chuyển đi chỗ khác, nhưng ông Lộc Văn S không chịu chuyển. Nay ông Lộc Văn S khởi kiện yêu cầu ông bồi thường theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ có 106 cây hồi bị chặt phá, mỗi cây có giá trị 2.000.000đồng và thanh toán giá trị 154 số cây hồi còn sống với giá mỗi cây 2.000.000đồng, ông không nhất trí bồi thường, ông yêu cầu ông Lộc Văn S chuyển 154 cây hồi đi chỗ khác trồng. Đối với những cây hồi còn sống xác định nằm ngoài lô đất số 237 như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì ông không có kiến gì, ông vẫn quản lý sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất mà ông được giao quyền quản lý và sử dụng, nếu sau này có ai đến tranh chấp đất ông sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Quyết định của Tòa:

Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu này có cơ sở để xem xét chấp nhận. Bởi, năm 2000 ông Lộc Văn S đã trồng cây hồi trên thửa đất 237 của ông Nông Văn M

Buộc ông Nông Văn M phải bồi thường do chặt cây hồi cho ông Lộc Văn S tổng số tiền 61.675.000đồng (sáu mươi mốt triệu sáu trăm bẩy mươi năm nghìn) và thanh toán giá trị cây hồi cho ông Lộc Văn S số tiền 47.800.000đồng (bốn mươi bẩy triệu tám trăm nghìn đồng). Tổng cộng giá trị tài sản tranh chấp là: 108.500.000 đồng (một trăm linh tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Ông Nông Văn M được sở hữu 154 cây hồi thuộc một phần lô đất số 237, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp năm 1998; chồng ghép với tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 05 năm 2008 của xã B, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn.

4. Cách giải quyết vấn đề tranh chấp lối đi giữa hai gia đình với nhau

Quy định Luật dân sự về quyền có lối đi giữa các gia đình như sau:

Điều 254. Quyền về lối đi qua

  1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

  1. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

Việc phát sinh tranh chấp lối đi giữa các gia đình phát sinh do mâu thuẫn trong việc xác định có giành lối đi hay không? mâu thuẫn về diện tích của lối đi, về giá bồi thường để có lối đi.

Sau đây là một bản án về tranh chấp lối đi chung ở Tỉnh Bình Phước:

Nội dung vụ án:

Vào năm 2000, ông Ngô Xuân Th có đại diện cho các hộ dân trong xóm ( gồm có: ông Ngô Xuân Th, ông Ngô Văn Đ, ông  Nguyễn  Văn H và ông  Nguyễn  Xuân Tr) đứng ra thỏa thuận và mua đất của gia đình ông  Nguyễn  Khắc T và ông  Nguyễn  Khắc D bà  Nguyễn  Thị C để làm đường đi chung cho xóm, con đường có chiều ngang 03m, chiều dài từ đất nhà ông H nay là ông N) đến đường thôn. Giá đất thỏa thuận là 1.800.000 đồng, trong đó trị giá đất của gia đình ông  Nguyễn  Khắc D bà  Nguyễn  Thị C là 1.200.000 đồng, trị giá đất của gia đình ông Tr là 600.000 đồng. Sau khi thỏa thuận thì ông D, bà C và ông Tr đã nhận đủ tiền và giao đất cho các hộ sử dụng làm đường đi. Đến năm 2011, ông D bà C tự ý đóng cọc giới hạn lối đi còn 02m thì các ông Đ, Th, Tr, H đã khởi kiện ông D bà C và đã được Tòa án nhân dân huyện B giải quyết tại bản án số 22/2013/DS-ST, ngày 04/7/2013, buộc ông D bà C trả lại lối đi chiều rộng 03m;

Đối với hộ ông  Nguyễn Khắc T tại thời điểm năm 2013 hộ ông Tr và các ông bà không có gì xảy ra tranh chấp về lối đi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các hộ dân trong xóm đã đi lại ổn định từ năm 2000 không có gì xảy ra tranh chấp, tuy nhiên đến ngày 07 tháng 7 năm 2015 thì ông Tr tự ý rào lối đi (do các ông Th, Đ, H, Tr đã mua của ông Tr) không cho các hộ ông, bà đi lại, diện tích đất lối đi ông Th đại diện các hộ dân đã mua của ông Tr có chiều ngang rộng là 3m, chiều dài từ đất nhà ông N tới đất nhà ông  Nguyễn  Khắc D và nằm ở giáp ranh giữa đất nhà ông Tr và ông Lê Đình C như Tòa án đã Thẩm định, đo đạc. Mặt khác, hiện nay trên bản đồ mới và trên sổ đất nhà ông Lê Đình C giáp ranh nhà ông Tr đã thể hiện có con đường trên, nay các ông bà yêu cầu gia đình ôngTrai phải mở đường trả lại phần đất lối đi và hộ ông Tr phải chấm dứt hành vi cản trở việc lưu Th của các hộ dân trên đoạn đường trên vì các hộ đã mua và trả đủ tiền cho ông Tr. Đây là con đường duy nhất mà các hộ ông bà liên Th đi ra đường QL14 để phục vụ cho việc học tập, đi lại, sinh hoạt của cả xóm.

– Bị đơn ông Nguyễn Khắc T trình bày:

Vào năm 2000, ông có thỏa thuận cho hộ ông Th đi nhờ trên đất nhà ông, ông chỉ cho một mình hộ ông Th đi nhờ chứ ông không bán diện tích đất này cho ông Th. Ông thừa nhận có nhận số tiền 600.000 đồng của ông Th và cho lại ông Th 100.000 đồng, ông chỉ thỏa thuận cho ông Th đi nhờ lối đi 03m chiều ngang và chiều dài từ ông N tới đường chéo ranh đất của ông với ông D khoảng 60m. Ông chỉ cho ông Th đi nhờ trên đất. Số tiền 500.000 đồng ông nhận từ ông Th không phải tiền bồi thường đất mà là tiền ông Th bồi thường cho ông chặt tán, cành của khoảng 11 cây điều để cho ông Th đi lại d dàng. Sau khi thỏa thuận với ông Th vào năm 2000 thì ông giao lối đi này lại cho ông Th, ông Th và các hộ dân phía trong cũng đi lại trên lối đi này. Đến ngày 07/7/2015 ông rào đường lại không cho ai đi qua lại với lý do ông C không ký giáp ranh làm thủ tục cho ông đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào năm 2000 thì Tòa án huyện B đã giải quyết mở lối đi trên đất của ông trên phần đất giáp bà Phan Thị N và ông Lê Xuân H. Tuy nhiên lối đi này không ai yêu cầu thi hành án. Sau đó hộ ông Th có thỏa thuận và ông cho ông Th đi nhờ lối đi hiện nay đang tranh chấp Hiện nay, các nguyên đơn yêu cầu ông mở trả lại diện tích đất lối đi theo yêu cầu của các nguyên đơn thì ông không đồng ý. Lý do: Năm 2000 Tòa án huyện B đã giải quyết lối đi cho các hộ dân ở phía trong rồi nay ông không mở lối đi khác nữa. Tại biên bản hòa giải ở xã hai bên đã thỏa thuận nhưng các nguyên đơn khởi kiện, Tòa án thụ lý vụ án, đến năm 2015 thì Tòa án đình chỉ, đề nghị Tòa án nghiên cứu biên bản hòa giải ở xã để giải quyết tại sao ông Th nói mua đất của ông nhưng lại đồng ý giải hòa ở xã; Ông không đồng ý trả đất lối đi theo yêu cầu của nguyên đơn vì ông chưa bán đất cho ông Th. Ngoài ra, ông còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc nguyên đơn chỉ yêu cầu mở lối đi 03m, tại biên bản xác minh ngày 06/8/2015 khi xác minh chỉ có thư ký xác minh còn Thẩm phán không xác minh, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tháo dỡ 16,67m hàng rào kẽm gai của ông trong khi các nguyên đơn chỉ yêu cầu lối đi 03m là không đúng.

Quyết định của Tòa:

Cả phía nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vào năm 2000, 08 hộ dân trong đó có hộ ông Th từng khởi kiện ông Tr để yêu cầu ông Tr phải mở lối đi cho các hộ này và đã được Tòa án nhân dân huyện B giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2000/DSST, ngày 10/5/2000 buộc ông Tr phải mở lối đi có chiều dài 215m, chiều rộng 03m, một bên giáp đất ông Cửu, một bên giáp đất ông Tr ra đường thôn, đồng thời buộc 08 hộ dân phải bồi thường cho ông Tr số tiền 1.120.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi án có hiệu lực pháp luật các bên đã không yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành mở lối di theo nội dung trên. Cũng vào năm 2000 thì hộ ông Th và ông Tr đã thỏa thuận lối đi khác là lối đi hiện nay đang tranh chấp và được các hộ sử dụng ổn định từ năm 2000 cho tới nay. Vị trí lối đi theo bản án số 14/2000/DSST thì hiện nay ông Tr đã múc mương để sử dụng riêng cho gia đình ông. Bên cạnh đó, tại Biên bản hòa giải tại UBND xã A lập ngày 23/7/2015 ông Tr cũng thừa nhận: “ úng là trước đây ông Th có hỏi tôi để cho 01 con đường đi, tôi có nói là hỏi gia đình ông D đồng ý thì tôi cũng đồng ý để cho 01 con đường đi. Sau khi gia đình ông D đồng ý thì tôi có nhận từ ông Th số tiền là 500.000 đồng………. ý do tôi rào đường lại là do gia đình ông C không ký cho tôi để tôi đổi sổ, tôi vẫn để đường cho các hộ đi nhưng hộ ông C phải ký giáp ranh cho tôi để tôi làm sổ……….ông Nguyễn Khắc T đồng ý để cho các hộ dân con đường đi như cũ, ngang là 3m giáp ranh giữa nhà ông và nhà ông C, sẽ để cho đi mãi mãi và không rào lại, đồng ý để cho các hộ dân nâng cấp, làm đường bê tông để đi lại cho thuận tiện và ổn định lâu dài” (bút lục 43). Mặt khác, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00023 ngày 25/11/2014 do UBND huyện B cấp cho hộ ông Lê Đình C phần giáp ranh với hộ ông  Nguyễn  Khắc T có thể hiện con đường đất, nhưng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tr được cấp năm 2002 thì không thể hiện con đường này. Tại Công văn số 358/UBND-NC ngày 10/5/2016 UBND huyện B đã có ý kiến đối với nội dung này như sau: “ Hộ gia đình ông Nguyễn Khắc T được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 165/QSDD ký ngày 04/12/2002 với tổng diện tích 65.620m2 (trong có có thửa số 125 tờ bản đồ số 14 với diện tích 27.583m2 hiện nay đang xảy ra tranh chấp có diện tích đường đi là 233,4m2)…Qua đối chiếu tờ bản đồ địa chính chính quy số 14 được đo đạc năm 1999 và theo giấy CNQSD đất số 165 ngày 04/12/2002 cho hộ ông Nguyễn Khắc T…. không thể hiện con đường mà các hộ dân đang tranh chấp mà nằm trong thửa đất số 125, tờ bản đồ số 14 cấp cho ông Tr. Tuy nhiên, con đường mà các hộ dân đang lưu Th qua phần đất nhà ông Tr đã được hình thành từ năm 2000 cho đến nay. Do đó, năm 2010 đơn vị đo đạc đã tiến hành đo đạc thành bản đồ địa chính quy mới khu đo 15 xã trên địa bàn huyện B, trong đó có phần diện tích đất của ông Nguyễn Khắc T ….nên đơn vị thi công đo đạc đã thể hiện con đường đất đúng với hiện trạng thực tế mà các hộ dân đang sử dụng lên trên bản đồ địa chính chính quy….” (bút lục 169). Ngoài ra, tại Tòa các đương sự cũng thừa nhận ngoài con đường mà các bên đang tranh chấp thì các hộ dân không còn lối đi nào khác để đi ra đường thôn, đường quốc lộ và giá tiền 600.000 đồng là phù hợp với giá đất tại thời điểm các bên giao dịch sang nhượng.

Áp dụng các Điều 245; Điều 248; Điều 254 và Điều 256 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí và lệ phí Tòa án, ngày 27/02/2009;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn các ông, bà Lê Đình C, Ngô Xuân Th, Đặng Thị N, Ngô Văn Đ, Ngô Xuân Q, Dương Văn N.
  2. Buộc hộ ông  Nguyễn  Khắc T, bà Vũ Thị Th phải mở trả lại lối đi có chiều rộng 03m với diện tích 225,7m2, có tứ cận: phía đông giáp đất bà C, ông C và phần đường đã được giải quyết tại bản án số 22/2013, phía tây giáp đất ông Tr, phía nam giáp đất ông Tr, phía bắc giáp đường đất không tranh chấp, diện tích đất lối đi này là một phần nằm trong diện tích đất 27.483,0m2 thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 14 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 04/12/2002 cho hộ ông  Nguyễn  Khắc T, theo Mảnh trích đo địa chính số T4-2017 lập ngày 03/7/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B kèm theo bản án này.

Việc hưởng quyền về lối đi qua bất động sản liền kề sẽ chấm dứt trong các Tr hợp quy định tại Điều 256 của Bộ luật dân sự 2015.

5. Tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Luật A+

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề liên quan đến pháp lý, tư vấn pháp luật, đại diện tố tụng cho các vụ án tranh chấp đất đai. Các dịch vụ luật A+ cung cấp đối với vụ án tranh chấp đất đai bao gồm:

  • Tư vấn pháp lý và đưa giải pháp xử lý tranh chấp
  • Tham gia đàm phán giải quyết tranh chấp.
  • Đại diện ủy quyền làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Soạn thảo toàn bộ hồ sơ khởi kiện.
  • Thay mặt nộp và tham gia tố tụng.
  • Luật sư bảo vệ tại phiên tòa các cấp.
  • Tư vấn thi hành án sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

Lý do chọn Luật A+:

Kết quả bền vững.

Để được nhận kết quả tốt, theo đúng quy định pháp luật, nhận giá trị lâu dài mà không phải làm điều sai trái, không hối lộ, không e ngại sợ hãi cơ quan công quyền.

Sự tử tế.

Được chăm sóc như người thân, ân cần, chân thành, giải thích cặn kẽ, liên tục, luôn bên cạnh trong suốt quá trình thực hiện công việc. Chúng tôi luôn bên bạn lúc thăng hay trầm.

Chuyên môn vững.

Luật sư nhiều kinh nghiệm, hiểu rõ cách vận hành pháp luật của cơ quan nhà nước, hiểu rõ quy luật vận hành của các mối quan hệ trong xã hội để giải quyết vụ việc trọn vẹn.

Khách hàng 0 Đồng.

Luật A+ sẵn sàng phục vụ khách hàng khó khăn về tài chính với chất lượng tốt nhất, giá không liên quan đến chất lượng, không phải mua sự tử tế, sự đúng đắn bằng tiền.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: tranh chấp đất đai có tài sản trên đất. Nếu còn bất kỳ vấn đề nào thắc mắc hoặc chưa rõ, bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua website hoặc liên hệ trực tiếp qua hotline để được tư vấn trực tiếp.

Call Now

Call Now