Home » Bài viết pháp luật » 02 bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nên tham khảo qua

02 bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nên tham khảo qua

Tranh chấp liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất là dạng tranh chấp cơ bản và phổ biến trên thực tiễn hiện nay. Trong vụ án thừa kế quyền sử dụng đất, có rất nhiều vấn đề chính yếu cần nắm để giải quyết. Hôm nay Luật A+ sẽ liệt kê cho bạn 02 bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nên tham khảo qua.

1. Bản án 12/2018/DS-PT ngày 11/01/2018 – Bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.

Nội dung bản án:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/12/2015 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Ngọc N trình bày: Trước đây cha của bà N là ông Trần Văn B, sinh năm 1930 (chết năm 2010), mẹ là bà Phan Ngọc D, sinh năm 1930 (chết năm 2013) có 08 người con chung gồm các ông, bà: Trần Thị L, Trần Thị Ng, Trần Ngọc N, Trần Thị Ánh H , Trần Văn T, Trần Hồng T, Trần Thị T, Trần Phước T. Khi còn sống, bà Phan Ngọc D có đứng tên quyền sử dụng 03 thửa đất trồng lúa: Thửa số 99, tờ bản đồ số 04, diện tích 2060.0m; Thửa số 100, tờ bản đồ số 04, diện tích 1980.0m; Thửa số 101, tờ bản đồ số 04, diện tích 1720.0m, cùng tọa lạc tại ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nguồn gốc 03 thửa đất trên là của cha, mẹ bà để lại.

Ông Trần Văn B chết không để lại di chúc. Vào ngày 19/9/2013 bà D lập di chúc có sự chứng kiến của chính quyền địa phương cùng các chị em trong gia đình, có nội dung khi bà D còn sống thì đất này giao cho ông Trần Phước T canh tác, nhưng đến khi bà D chết thì cho lại bà 03 thửa đất nêu trên. Sau khi bà D chết, bà N vẫn để ông T tiếp tục canh tác, đến tháng 3/2015 bà có đến gặp ông T yêu cầu ông T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà và bà sẽ để ông T tiếp tục canh tác thêm 3 năm nữa, nhưng ông T không đồng ý. Nay bà Trần Ngọc N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Phước T giao lại 03 thửa đất trên cho bà N theo di chúc do bà Phan Ngọc D lập ngày 19/9/2013. Trong trường hợp di chúc không hợp pháp bà yêu cầu chia phần đất trên theo pháp luật.

– Bị đơn ông Trần Phước T trình bày:

Cha ông là Trần Văn B, sinh năm 1930 (chết năm 2010), mẹ bà là bà Phan Ngọc D, sinh năm 1930 (chết năm 2013) có 08 người con đúng như bà N trình bày. Nguồn gốc 03 thửa đất bà N yêu cầu chia thừa kế theo di chúc là tài sản do cha, mẹ ông để lại. Ông T không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà N, vì theo ông thì Phan Ngọc D không có di chúc cho đất bà N, di chúc nói lập lúc tinh thần bà D còn minh mẫn là không có cơ sở, vì lúc đó bà D đã 83 tuổi nhưng không có giấy khám sức khỏe, Ủy ban nhân dân xã Th xác nhận di chúc là không phù hợp với quy định của pháp luật. Lúc còn sống, bà D có di ngôn là giao đất 03 thửa đất trên cho ông vĩnh viễn, là con trai út trong gia đình được quản lý, sử dụng nhưng không được bán, khi nào bán thì phải có ý kiến của anh chị em. Ông T yêu cầu chia phần đất tranh chấp thành 08 phần bằng nhau cho 08 anh chị em, ông sẽ trả lại giá trị 1/8 phần đất cho bà N, còn những người anh, chị khác không có tranh chấp với ông, khi nào anh, chị khác có yêu cầu trả lại phần họ được hưởng thì ông sẽ trả

– Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Lâm Thị C (con bà Trần Thị L) trình bày: Ông, bà ngoại của bà là Trần Văn B và Phan Ngọc D chết không có để lại di chúc, bà không biết gì về việc tranh chấp giữa bà N và ông T, bà cũng không có yêu cầu chia phần đất nêu trên.

– Bà Trần Thị T và bà Trần Thị Ánh H trình bày:

Cha, mẹ bà là ông Trần Văn B và bà Phan Ngọc D có 08 người con đúng như bà N trình bày, lúc chết cha, mẹ bà không có để lại di chúc. Phần đất bà N đang tranh chấp với ông T lúc còn sống cha, mẹ không có nói cho ai cả, đến khi cha bà chết thì mẹ bà mới giao lại cho ông T sử dụng, nhưng đến khi nào ông T có ý định bán thì mới cho lại bà N, nếu ông T còn canh tác thì phần đất này không cho bà N. Tờ di chúc lập ngày 19/9/2013 bà không có ký xác nhận và bà cũng không yêu cầu chia phần đất này.

Bà Trần Hồng T trình bày: Cha, mẹ bà là ông Trần Văn B và bà Phan Ngọc D có 08 người con đúng như bà N trình bày, lúc chết cha, mẹ bà không có để lại di chúc. Phần đất bà N đang tranh chấp với ông T lúc còn sống cha, mẹ không có nói cho ai cả, đến khi cha bà chết thì mẹ bà mới giao lại cho ông T sử dụng, nhưng đến khi nào ông T có ý định bán thì mới cho lại bà N, nếu ông T còn canh tác thì phần đất này không cho bà N. Tờ di chúc lập ngày 19/9/2013 bà có ký xác nhận, nhưng không biết nội dung như thế nào, mẹ bà bị bệnh tai biến, nằm một chỗ 05 năm, lúc đó không còn minh mẫn lắm. Chữ ký trong tờ di chúc là của bà D, bà không yêu cầu chia phần đất này vì lúc còn sống cha, mẹ đã chia tài sản cho bà rồi.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là các ông, bà: Trần Văn T, Lê Thị Ú, Trần Thị Ng, Đỗ Kha L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Tú và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị Ánh H và bà Trần Thị L gồm các ông bà: Lâm Văn H, Lâm Thị T, Lâm Văn T, Chung Thanh H, Chung Thanh B, Chung Thanh M, Chung Thanh B, Trương Văn K không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án về yêu cầu chia thừa kế của bà N, đồng thời cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

* Sự việc được Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại bản án sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định như sau:

 Căn cứ: Khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 143, Điều 146, Điều 147, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 653, Điều 655, Điều 676, Điều 741 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 674, Điều 675, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của bà Phan Ngọc D lập ngày 19/9/2013 là quyền sử dụng 03 thửa đất: 99, 100, 101, cùng tờ bản đố số 04, cùng tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Tuyên bố di chúc do bà Phan Ngọc D lập ngày 19/9/2013 có hiệu lực một phần.

2/ Công nhận di sản của ông Trần Văn B và bà Phan Ngọc D để lại.

3/ Chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông Trần Văn B và chia thừa kế theo di chúc đối với phần di sản của bà Phan Ngọc D chết để lại, trong khối tài sản chung là 03 thửa đất: số 99 diện tích 1.836,2m; thửa 100 2.023,3m, thửa 101 diện tích 1.559,9m, cùng tờ bản đồ số 4, cùng tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, có tổng diện tích 5.419,4m như sau:

– Giao cho bà Trần Ngọc N được quyền sử dụng đối với 03 thửa đất: thửa 99 diện tích 1.836,2m; thửa 100 2.023,3m, thửa 101 diện tích 1.559,9m, cùng tờ bản đồ số 4, cùng tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

– Buộc ông Trần Phước T, bà Lê Thị Ú, ông Nguyễn Văn Tú giao trả cho bà Trần Ngọc N 03 thửa đất: số 99 diện tích 1.836,2m; thửa 100 diện tích 2.023,3m; thửa 101 diện tích 1.559,9m, cùng tờ bản đồ số 4, cùng tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng có số đo và tứ cận đã nêu trên.

– Bà Trần Ngọc N có trách nhiệm hoàn trả phần tài sản thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế có tên dưới đây:

+ Ông Trần Phước T được nhận một suất thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Ông Trần Văn T được nhận một suất thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Bà Trần Thị Ng được nhận một suất thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Bà Trần Thị T được nhận một suất thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Bà Trần Thị Th được nhận một suất thừa kế theo pháp luật của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Các ông, bà: Lâm Văn H, Lâm Thị Trường T (Lâm Thị T), Lâm Văn T, Lâm Thị C cùng được nhận một suất thừa kế theo pháp luật mà bà Trần Thị L được hưởng của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

+ Các ông, bà: Chung Thanh H, Chung Thanh B, Chung Thanh M, Chung Thanh B, Trương Văn K cùng được nhận một suất thừa kế theo pháp luật mà bà Trần Thị Ánh H được hưởng của ông Trần Văn B, với số tiền 10.538.305 đồng.

Khi bản án có hiệu lực, kể từ ngày các ông, bà có tên nêu trên có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bà Trần Ngọc N còn phải trả lãi cho các ông, bà nêu trên theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định

Ngày 11/10/2017 bị đơn ông Trần Phước T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án một phần bản án sơ thẩm 28/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện

Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết: chia đều bốn công đất của cha mẹ để lại cho 08 người con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có liên quan vắng mặt nêu trên theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

[2] Nguyên đơn bà Trần Ngọc N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trần Phước T trả lại cho bà 03 thửa đất gồm thửa 99, 100, 101 tại tờ bản đồ số 04, tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo di chúc của mẹ bà là cụ Phan Ngọc D lập ngày 19/9/2013. Trong trường hợp di chúc không hợp pháp bà yêu cầu chia phần đất trên theo pháp luật. Bị đơn ông Trần Phước T yêu cầu chia phần đất tranh chấp thành 08 phần bằng nhau cho 08 anh chị em, ông sẽ trả lại giá trị 1/8 phần đất cho bà N, còn những người anh, chị khác không có tranh chấp với ông, khi nào họ có yêu cầu thì ông sẽ trả. Về nguồn gốc phần đất tranh chấp các bên đều thừa nhận phần đất nêu trên là tài sản của Cụ B và cụ D tạo lập khi còn sống, đây là tình tiết sự kiện được các đương sự thừa nhận không phải chứng minh theo điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, do đó cấp sơ thẩm xác định đây là di sản thừa kế là đúng quy định của pháp luật.

 [3] Cụ B chết vào ngày 25/5/2010 không để lại di chúc, cụ D chết vào ngày 24/9/2013 có để lại di chúc. Qua xem xét tính hợp pháp của di chúc thấy rằng: về hình thức di chúc được lập thành văn bản được UBND xã Th chứng thực, phù hợp với quy định tại điều 636 Bộ luật dân sự. Về nội dung mặc dù di chúc không xác định rõ vị trí phần đất thuộc thửa nào, tại đâu, tuy nhiên các bên đều thừa nhận đây là phần đất thuộc các thửa 99, 100, 101 tại tờ bản đồ số 04, tọa lạc ấp T, xã Th, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Bị đơn cũng thừa nhận chữ ký trong tờ di chúc là chữ ký của cụ D nhưng cho rằng đây là di chúc không hợp pháp do khi lập di chúc cụ D không có giấy khám sức khỏe.

[4] Tại các biên bản xác minh cùng ngày 27/6/2017 (Bút lục 201 -203) ông Lê Văn Hộ – Phó chủ tịch UBND xã Th và ông Trần Quốc X – Cán bộ tư pháp xã Th đều xác nhận thời điểm lập di chúc cụ D bị tai biến nhưng vẫn còn minh mẫn, sáng suốt. Tờ di chúc được ông Xuân ghi theo nguyện vọng của cụ Dung, chữ ký và chữ viết Phan Ngọc D trong tờ di chúc là chữ ký và chữ viết của cụ. Do đó tờ di chúc lập ngày 19/9/2013 của cụ Phan Ngọc D là hợp pháp nên việc phản đối của ông T là không có căn cứ.

[5] Trên cơ sở di chúc của cụ D là hợp pháp, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giao 50% khối di sản của bà D để lại cho bà N. Đồng thời chia theo pháp luật 50% di sản của Cụ B để lại cho 09 đồng thừa kế của Cụ B tại thời điểm cụ chết vào năm 2010, là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó kháng cáo của bị đơn ông T yêu cầu chia phần đất tranh chấp thành 08 phần bằng nhau là không có căn cứ.

[6] Tuy nhiên, tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Lâm Văn H, bà Lâm Thị C (Tr), bà Lâm Thị T và ông Lâm Văn T là những người kế thừa tố tụng của bà Trần Thị L là không chính xác. Bởi lẽ, bà Trần Thị L chết ngày 08/7/1996, trong khi cụ Phan Ngọc D là mẹ của bà L chết sau bà L là năm 2013. Lẽ ra phải xác định bà Trâm, bà Tồn và ông Thái là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mới đúng. Từ đó cấp sơ thẩm xác định ông Lâm Văn H cùng các con là Lâm Thị Trâm, Lâm Thị T, Lâm Văn T được hưởng một suất thừa kế theo pháp luật của bà Trần Thị L được hưởng của ông Trần Văn B là không đúng theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015, luật quy định như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắc được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định ông Lâm Văn H là chồng của bà L được hưởng thừa kế thế vị của bà L là không chính xác. Ngoài ra, tại phần quyết định cấp sơ thẩm tuyên: “ Khi bản án có hiệu lực, kể từ ngày các ông, bà có tên nêu trên có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bà Trần Ngọc N còn phải trả lãi cho các ông, bà nêu trên theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án là không chính xác. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho đúng là khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[7] Xét thấy, những thiếu xót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị vấn đề này và cũng không làm thay đổi bản chất của vụ án, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự. Cho nên cấp phúc thẩm nêu lên để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[8] Từ những phân tích trên kháng cáo của bị đơn ông Trần Phước T là không có cơ sở chấp nhận, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Do kháng cáo không được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên tòa quyết định:

– Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Phước T.

– Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng

2. Bản án 10/2019/DS-PT ngày 12/03/2019 về tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất.

Nội dung vụ án:

Tại các bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa các ông, bà Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H là nguyên đơn trình bày:

Nguyên nguồn gốc đất hiện nay đang tranh chấp do ông bà để lại cho cha mẹ các ông, bà là ông Đồng Trọng C1 và bà Trương Thị B.

Ông Đồng Trọng C1, bà Trương Thị B có 07 người con gồm các ông bà: Đồng Trọng C, Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng T, Đồng Trọng N, Đồng Thị Như H, Đồng Thị Kim K. Ông C1, bà B không có con riêng, con nuôi.

Năm 1983, thực hiện chủ trương đăng ký kê khai ruộng đất của Nhà nước, ông Đồng Trọng C1 và các con Đồng Trọng T, Đồng Trọng N đã đăng ký, kê khai theo chỉ thị 229/TTg. Trong đó, ông Đồng Trọng N kê khai riêng diện tích đất 435m2.

Năm 1995, Nhà nước cân đối đất theo Nghị định 64/CP, hộ ông Đồng Trọng C được cân đối cho 06 người gồm: ông Đồng Trọng C, bà Bùi Thị N, bà Đồng Thị Như C, ông Đồng Trọng M, ông Đồng Trọng C1 và bà Trương Thị B tại thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.695m2 (trong đó 200m2 đất ở, 1.495m2 đất vườn), mỗi người được cân đối 249m2 (hộ ông Đồng Trọng N được cân đối riêng diện tích đất 435m2)

Năm 2004, bà Trương Thị B chết không để lại di chúc. Năm 2005, ông Đồng Trọng C1 chết để lại di chúc nhưng không hợp pháp. Tài sản của ông Đồng Trọng C1, bà Trương Thị B gồm: 200m2 đất ở (không cân đối theo Nghị định 64/CP + 498m2 của hai người cha và mẹ = 698m2).

Nay các ông bà yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị N, bà Ngô Thị T và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đồng Trọng C chia di sản của cha mẹ các ông bà để lại cho 06 người gồm: Đồng Trọng C, Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H, Đồng Thị Kim K mỗi người nhận một kỷ phần là 116,33m2 tại thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 03, xã N, thành phố Q. Riêng ông Đồng Trọng N từ chối nhận di sản. Đối với các cây trên đất thuộc phần diện tích đất của ai thì người đó được hưởng và thối lại giá trị theo biên bản thỏa thuận giá ngày 18/11/2016.

Trọng C là bị đơn trình bày:

Việc các anh, chị, em của ông yêu cầu chia di sản của cha mẹ để lại là diện tích đất 698m2 tại thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 3, xã N, thị xã Q (nay là thành phố Q) ông không đồng ý, vì nguồn gốc đất hiện đang tranh chấp là do ông bà lưu hạ cho con cháu và đã được cha mẹ ông là Đồng Trọng C1, Trương Thị B để lại di chúc cho riêng ông.

Tại biên bản hòa giải ngày 24/5/2016 và tại phiên tòa ông Đồng Trọng N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Gia đình ông đã được cân đối giao đất tại thửa đất số 20XX, tờ bản đồ số 3, xã N, thành phố Q nên đối với phần di sản thừa kế do cha mẹ ông để lại thì ông không nhận. Phần di sản thừa kể này ông chia đều lại cho các đồng thừa kế khác.

Tại bản tự khai ngày 01/11/2013, biên bản hòa giải ngày 24/5/2016 ông Đồng Trọng M là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đồng Trọng C trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông bà lưu hạ qua nhiều đời. Cha ông là Đồng Trọng C được thừa kế theo di chúc toàn bộ diện tích đất này vì là trưởng nam. Đồng thời, theo nguyện vọng của ông bà, tổ tiên thì không được bán, không được chia đất này, giữ lại để lo hương khói cho ông bà từ đời này qua đời khác. Ông không đồng ý chia di sản thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Tại bản tự khai ngày 15/5/2016, bà Ngô Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà T là vợ của ông Đồng Trọng M, đang sinh sống trên diện tích đất được yêu cầu chia di sản thừa kế, bà không có ý kiến gì hay yêu cầu gì liên quan đến tranh chấp giữa các đương sự.

Các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Đồng Thị Kim K trình bày:

Trước đây bà K đã ủy quyền cho ông Đồng Trọng D tham gia tố tụng, trình bày ý kiến, nay các ông bà tiếp tục ủy quyền cho ông D trình bày.

Đối với phần di sản thừa kế của bà K được hưởng, các ông bà yêu cầu được nhận theo quy định của pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Trọng D, ông Đồng Trọng V, ông Đồng Trọng T, bà Đồng Thị Như H, bà Đồng Thị Kim K (chết năm 2016, có chồng là ông Bùi Quốc T và các con gồm: Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M) về tranh chấp chia thừa kế là quyền sử dụng đất theo pháp luật.

Chia cho bà Bùi Thị N, ông Đồng Trọng L, ông Đồng Trọng M, bà Đồng Thị Như C, bà Đồng Thị Như T 187m2, trong đó 50m2 đất ở và 137m2 đất vườn, có giới cận: Phía đông giáp đường đi có cạnh 0.42m, 8.57m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 22.87m; phía bắc giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 23m; phía tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 3.44m, 4.41m (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A1).

Chia cho ông Đồng Trọng V 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở và 69,7m2 đất vườn có các cạnh: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4.26m, phía đông giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 18.66m; phía tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 23.01m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4.23m; (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A2).

Chia cho ông Đồng Trọng T 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở và 69,7m2 đất vườn có các cạnh: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4.30m, phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng V có cạnh 23.01m; phía tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22.51m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4.57m (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A3).

Chia cho ông Đồng Trọng D 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở và 69,7m2 đất vườn có các cạnh: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4.30m, phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 22.51m, phía tây giáp phần đất chia cho bà Đồng Thị Như H có cạnh 22.03m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4.79m (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A4).

Chia cho bà Đồng Thị Như H 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở và 69,7m2 đất vườn có các cạnh: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4.56m, phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22.03m, phía tây giáp phần đất chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M có cạnh 21.50m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4.77m (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A5).

Chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở và 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4.21m, phía đông giáp thửa đất chia cho ông bà Đồng Thị Như H có cạnh 21.50m; phía tây giáp phần đất của hộ ông Nguyễn N có cạnh 22.30m; phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4.95m (diện tích, giới cận và kích thước các cạnh có sơ đồ bản vẽ kèm theo, ký hiệu A6).

Ông Đồng Trọng V được sở hữu toàn bộ tài sản là cây trên đất được giao, ông Đồng Trọng V có nghĩa vụ thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 3.000.000 đồng.

Ông Đồng Trọng T được sở hữu toàn bộ tài sản là cây trên đất được giao, ông Đồng Trọng T có nghĩa vụ thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

 Ông Đồng Trọng D được sở hữu toàn bộ tài sản là cây trên đất được giao, ông Đồng Trọng D có nghĩa vụ thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Bà Đồng Thị Như H được sở hữu toàn bộ tài sản là cây trên đất được giao, bà Đồng Thị Như H có nghĩa vụ thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Ông Bùi Quốc T được sở hữu toàn bộ tài sản là cây trên đất được giao, ông T có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí đo đạc, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/3/2018, các ông, bà Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 01/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có quyết định kháng nghị số 372/2018/KNPT-DS, kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 07/02/2018 về phần chia di sản thừa kế, phần án phí dân sự sơ thẩm và sơ đồ giải quyết tranh chấp, điều luật áp dụng.

Nhận định của Toà án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đối với người kháng cáo là các ông bà: Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đồng Trọng C), đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, coi như các ông bà từ bỏ việc kháng cáo, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của các ông bà.

[1.2] Đối với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Đồng Thị Kim K là các ông bà: Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N, bà Ngô Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1.3] Cụ Trương Thị B chết năm 2004, cụ Đồng Trọng C1 chết năm 2005. Ngày 26/8/2013 các ông bà Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H, Đồng Thị Kim K khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thôn 1, xã N, thành phố Q. Theo Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ B và cụ C1 vẫn còn. Tòa án nhân dân thành phố Q thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét kháng cáo của ông Đồng Trọng M, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1.1] Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của các nguyên đơn: Cụ Trương Thị B chết năm 2004 không để lại di chúc, Cụ Đồng Trọng C1 chết năm 2005 có để lại “Đơn di chúc” đề ngày 18/10/2001 với nội dung: “Vợ chồng ông được thụ hưởng của ông bà một khoảnh vườn diện tích 04 sào, tọa lạc tại đội 4, thôn 1, xã N. Nay ông bằng lòng di chúc cho con ông là Đồng Trọng C thụ hưởng, lo hương khói cho ông bà. Sau này không được thế chấp và bán cho ai”. Tuy nhiên, nội dung đơn di chúc trên không xác định được vị trí cụ thể của thửa đất ở đâu, tờ bản đồ số mấy. Đồng thời, Theo xác nhận của UBND xã N và các tài liệu, chứng cứ thu thập được thì thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.695m2 (trong đó 200m2 đất ở và 1495m 2 đất vườn) tại Thôn X, xã N được cân đối theo Nghị định 64/CP cho hộ cụ Đồng Trọng C1 năm 1995. Tại thời điểm cân đối thì hộ cụ C1 có 06 người gồm: Đồng Trọng C1, Trương Thị B, Đồng Trọng C, Bùi Thị N, Đồng Trọng M và Đồng Thị Như C. Vì vậy, cụ Đồng Trọng C1 cho rằng thửa đất trên là do ông bà để lại cho cụ và cụ thừa kế lại toàn bộ thửa đất cho ông Đồng Trọng C là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, di chúc mà cụ Đồng Trọng C1 để lại là không hợp pháp. Việc các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là có cơ sở.

[2.1.2] Di sản thừa kế: Năm 1995, hộ cụ Đồng Trọng C1 được cân đối đất theo Nghị định 64/CP thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.695m2 (trong đó 200m2 đất ở và 1495m2 đất vườn). Theo phương án, chỉ cân đối đất vườn, không cân đối đất ở. Tại thời điểm cân đối đất hộ cụ Đồng Trọng C1 có 06 nhân khẩu. Như vậy, mỗi nhân khẩu được cân đối 1495m2 : 6 = 249,16m2 đất vườn. Cụ C1, cụ B được cân đối là 249,16m2 x 2 = 498,32m2 đất vườn. Vì vậy, di sản cụ C1 và cụ B để lại là 698,32m2 (bao gồm 498,32m2 đất vườn + 200m2 đất ở) thuộc thửa đất số 17XX, tờ bản đồ số 3, xã N, thành phố Q (sau đây gọi tắt là thửa đất số 17XX).

[2.1.3] Hàng thừa kế thứ nhất: Cụ Trương Thị B và cụ Đồng Trọng C1 có 07 người con chung gồm: Đồng Trọng C, Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng N, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H và Đồng Thị Kim K. Ngoài ra, cụ C1 và cụ B không có con riêng, con nuôi nào khác. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1 và cụ B gồm 07 người: Đồng Trọng C, Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng N, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H và Đồng Thị Kim K.

[2.1.4] Phân chia di sản: Ông Đồng Trọng N không nhận di sản thừa kế mà nhường lại kỷ phần của mình cho các đồng thừa kế khác. Do đó, di sản của cụ C1, cụ B sẽ được chia cho 6 người con gồm: Đồng Trọng C, Đồng Trọng D, Đồng Trọng V, Đồng Trọng T, Đồng Thị Như H và Đồng Thị Kim K mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế. Năm 2017, ông Đồng Trọng C chết, nên vợ và các con là: Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, hưởng phần thừa kế của ông C. Năm 2016. Bà Đồng Thị Kim K chết nên chồng và các con là: Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, hưởng phần thừa kế của của bà K.

Tuy nhiên, xét ông Đồng Trọng C, bà Bùi Thị N và các con có công sức trong việc quản lý, bảo quản, tôn tạo khối di sản của cụ C1, cụ B để lại. Nên cần tính công sức cho ông C và các con ông tương đương một kỷ phần thừa kế. Như vậy, di sản của cụ C1, cụ B được chia làm 07 kỷ phần. Trong đó, các ông bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M cùng được chia 02 kỷ phần, ông Đồng Trọng D 01 kỷ phần, ông Đồng Trọng V 01 kỷ phần, ông Đồng Trọng T 01 kỷ phần, bà Đồng Thị Như H 01 kỷ phần và các ông bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M cùng được chia 01 kỷ phần.

Mỗi kỷ phần thừa kế 698,32m2 : 7 = 99,76m2.

Chia cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M: 99,76m2 x 2 = 199,52m2 (làm tròn 199,5m2) trong đó 50m2 đất ở, 149,5m2 đất vườn, có giới cận: Phía Đông giáp đường đi có cạnh 8,80m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 22,93m; phía Bắc giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 23m, phía Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,29m, 4,41m (có ký hiệu A1).

Chia cho ông Đồng Trọng V: 99,76m2 (làm tròn 99,7m2) trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía Bắc giáp đường đi có cạnh 4,26m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,23m; phía Đông giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 18,66m, phía Tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 23,01m (có ký hiệu A2).

Chia cho ông Đồng Trọng T: 99,76m2 (làm tròn 99,7m2), trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía Bắc giáp đường đi có cạnh 4,30m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,57m; phía Đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng V có cạnh 23,01m, phía Tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22,51m (có ký hiệu A3).

Chia cho ông Đồng Trọng D: 99,76m2 (làm tròn 99,7m2), trong đó 30m2 đất ở,

69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía Bắc giáp đường đi có cạnh 4,30m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,79m; phía Đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 22,51m, phía Tây giáp phần đất chia cho bà Đồng Thị Như H có cạnh 22,03m (có ký hiệu A4).

Chia cho bà Đồng Thị Như H: 99,76m2 (làm tròn 99,7m2), trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía Bắc giáp đường đi có cạnh 4,56m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,77m; phía Đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22,03m, phía Tây giáp phần đất chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M có cạnh 21,50m (có ký hiệu A5).

Chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M: 99,76m2 (làm tròn 99,7m2), trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía Bắc giáp đường đi có cạnh 4,21m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,95m; phía Đông giáp thửa đất chia cho ông bà Đồng Thị Như H có cạnh 21,50m, phía Tây giáp phần đất của hộ ông Nguyễn N có cạnh 22,30m (có ký hiệu A6).

Trên phần đất giao cho ông Đồng Trọng V có 14 cây cau cho quả do ông C trồng trị giá 3.500.000 đồng. Giao toàn bộ tài sản trên cho ông Đồng Trọng V sở hữu, ông V phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 3.500.000 đồng.

 Trên phần đất giao cho ông Đồng Trọng T có 02 cây cau cho quả do ông C trồng trị giá 500.000 đồng. Giao toàn bộ tài sản trên cho ông Đồng Trọng T sở hữu, ông T phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 500.000 đồng.

Trên phần đất giao cho ông Đồng Trọng D có 02 cây cau cho quả do ông C trồng trị giá 500.000 đồng. Giao toàn bộ tài sản trên cho ông Đồng Trọng D sở hữu, ông D phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 500.000 đồng.

Trên phần đất giao cho bà Đồng Thị Như H có 03 cây cau cho quả do ông C trồng trị giá 750.000 đồng. Giao toàn bộ tài sản trên cho bà Đồng Thị Như H sở hữu, bà H phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 750.000 đồng.

Trên phần đất giao cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M có 02 cây cau cho quả do ông C trồng trị giá 500.000 đồng. Ngoài ra, trên phần đất này còn có một cây mít và một cây xoài chưa cho quả, tại phiên tòa các đương sự đều khai nhận cây mít và cây xoài tự mọc, còn nhỏ, không có giá trị. Giao toàn bộ tài sản trên cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M sở hữu, các ông bà phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 500.000 đồng.

Từ những phân tích trên, kháng cáo của ông Đồng Trọng M là không có cơ sở, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các ông bà: Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đồng Trọng M.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên xử: 

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Trọng D, ông Đồng Trọng V, ông Đồng Trọng T, bà Đồng Thị Như H, bà Đồng Thị Kim K về tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất theo pháp luật.

Chia cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M 199,5m2, trong đó 50m2 đất ở, 149,5m2 đất vườn, có giới cận: Phía đông giáp đường đi có cạnh 8,80m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 22,93m; phía bắc giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 23m, phía tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,29m, 4,41m (có ký hiệu A1).

Chia cho ông Đồng Trọng V: 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4,26m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,23m; phía đông giáp thửa đất số 20XX của ông Đồng Trọng N có cạnh 18,66m, phía tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 23,01m (có ký hiệu A2).

Ông Đồng Trọng V được sở hữu 14 cây cau trên đất và có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 3.500.000 đồng.

Chia cho ông Đồng Trọng T: 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4,30m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,57m; phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng V có cạnh 23,01m, phía tây giáp phần đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22,51m (có ký hiệu A3).

Ông Đồng Trọng T được sở hữu 02 cây cau trên đất và có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Chia cho ông Đồng Trọng D: 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4,30m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,79m; phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng T có cạnh 22,51m, phía tây giáp phần đất chia cho bà Đồng Thị Như H có cạnh 22,03m (có ký hiệu A4).

Ông Đồng Trọng D được sở hữu 02 cây cau trên đất và có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Chia cho bà Đồng Thị Như H: 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4,56m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,77m; phía đông giáp thửa đất chia cho ông Đồng Trọng D có cạnh 22,03m, phía tây giáp phần đất chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M có cạnh 21,50m (có ký hiệu A5).

Bà Đồng Thị Như H được sở hữu 03 cây cau trên đất và có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 750.000 đồng.

Chia cho các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M: 99,7m2, trong đó 30m2 đất ở, 69,7m2 đất vườn, có giới cận: Phía bắc giáp đường đi có cạnh 4,21m, phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 17XX có cạnh 4,95m; phía đông giáp thửa đất chia cho ông bà Đồng Thị Như H có cạnh 21,50m, phía tây giáp phần đất của hộ ông Nguyễn Nghệ có cạnh 22,30m (có ký hiệu A6).

Các ông, bà Bùi Quốc T, Bùi Đồng Anh T, Bùi Đồng Thanh M, Bùi Đồng Như H, Bùi Đồng M được sở hữu 02 cây cau, 01 cây mít, 01 cây xoài trên đất và có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho các ông, bà Bùi Thị N, Đồng Trọng L, Đồng Thị Như C, Đồng Thị Như T, Đồng Trọng M số tiền 500.000 đồng.

Tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Luật A+

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề liên quan đến pháp lý, tư vấn pháp luật, thủ tục giấy tờ cho khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp. Bên cạnh việc tư vấn tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế, Luật A+ cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn khác như:

  • Tư vấn pháp lý
  • Soạn thảo, trực tiếp thực hiện các thủ tục cấp giấy phép, giấy chứng nhận, giấy đăng kiểm, giấy đăng ký lưu hành thuốc và các giấy tờ, thủ tục hành chính khác
  • Đại diện ủy quyền doanh nghiệp thực hiện thủ tục
  • Hỗ trợ tư vấn các quy định khác trong quá trình kinh doanh
  • Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người già, trẻ vị thành niên, các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.

Phương châm hoạt động của đội ngũ Luật sư tại Luật A+:

Kết quả bền vững.

Luật A+ hoạt động dựa trên giá trị lâu dài. Chúng tôi cam kết chịu 100% trách nhiệm về những việc đã làm bằng chính uy tín công ty cũng như trước pháp luật. Mọi hoạt động, dịch vụ tư vấn đều theo đúng quy định pháp luật và mang lại lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

Sự tử tế.

Đội ngũ luật sư tại Luật A+ tận tâm, nhiệt huyết. Hỗ trợ khách hàng bằng sự ân cần, chân thành. Trong suốt quá trình tư vấn và hỗ trợ, khách hàng được giải thích cặn kẽ, liên tục, luôn bên cạnh trong suốt quá trình thực hiện công việc. Luật A+ cho rằng chính sự quan tâm, chi tiết và chân thành trong mọi khâu hợp tác chính là chìa khoá mang lại hiệu quả và sự hài lòng của khách hàng.

Chuyên môn vững.

Trong hơn 10 năm hành nghề, các Luật sư A+ luôn tâm niệm nghề nghiệp của mình sinh ra để cống hiến cho khách hàng và cho xã hội. Với từng vụ việc cụ thể, chúng tôi đều hướng đến việc đem lại kết quả bền vững cho khách hàng, giúp môi trường pháp luật ngày càng công chính hơn. Bằng việc nắm chắc cơ sở pháp ý của vụ việc, hiểu rõ cơ chế phối hợp làm việc, cơ chế giám sát của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước, Luật sư A+ nắm rõ con đường để đạt được mục tiêu cho vụ việc pháp lý mình đảm nhận. Các Luật sư của chúng tôi đã thực hiện hơn 4.500+ vụ, và hơn 1.500+ khách hàng với những kết quả đáng tự hào.

Khách hàng 0 Đồng.

Quy trình làm việc đơn giản đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng. Chi phí, thù lao được tính theo công thức khoa học. Đảm bảo Quý khách nhận được dịch vụ chất lượng nhất với chi phí phù hợp nhất. Luật A+ sẵn sàng phục vụ khách hàng khó khăn về tài chính với chất lượng tốt nhất, chi phí không liên quan đến chất lượng, không phải mua sự tử tế, sự đúng đắn bằng tiền.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề: 02 bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nên tham khảo qua. Nếu còn bất kỳ vấn đề nào thắc mắc hoặc chưa rõ, bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua website hoặc liên hệ trực tiếp qua hotline để được tư vấn trực tiếp.

Call Now

Call Now