Home » Hình sự » Xử lý đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào?

Nội dung

Tin liên quan

Xử lý đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào?

Nhiều người cùng nhau lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thì có thể bị phạt từ 02 đến 07 năm tù về hành vi đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự). Trong bài viết dưới đây, Luật A+ mời bạn đọc tìm hiểu chi tiết hơn về đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong bài viết này!

1. Đồng phạm trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Đồng phạm trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp có từ 02 người trở lên cùng cố ý thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. 

Theo quy Khoản 1, Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) đồng phạm được quy định như sau: 

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02
Đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là trường hợp lừa đảo có tổ chức, có kế hoạch được thực hiện bởi 02 người trở lên.

2. Hình phạt cho đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là hình thức phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự có mức phạt từ 02 năm đến 07 năm tù giam, cụ thể:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt.”

Đây là mức phạt chung cho các đồng phạm, tuy nhiên mức phạt này sẽ thay đổi tùy theo vai trò của từng đồng phạm. Nguyên tắc xác định hình phạt được quy định tại Khoản 4 Điều 17 Bộ luật Hình sự, các đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của những người đồng phạm khác mà trước đó không có sự bàn bạc và thống nhất với nhau.

Như vậy, thông thưởng, kẻ chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu kế hoạch lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ phải chịu mức phạt nặng hơn so với các đồng phạm còn lại. Các đồng phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với phần hành vi vượt quá kế hoạch của người trực tiếp trộm cắp. 

đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01
Án phạt liệu có giống nhau giữa những đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

3. Đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được giảm nhẹ hình phạt không?

Đồng phạm trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể được giảm nhẹ hình phạt nếu họ có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự như sau: 

“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.”

đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03
Một số tình tiết giúp giảm nhẹ TNHS cho đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Lưu ý: việc giảm nhẹ hình phạt không phải tự động áp dụng cho tất cả các đồng phạm mà phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, các tình tiết giảm nhẹ mà họ có và vai trò của từng đồng phạm trong vụ án.

4. Một số vụ án thực tiễn về đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Các vụ án thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ cách cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá vai trò của từng người trong vụ án đồng phạm. Trên thực tế, một người không trực tiếp nhận hoặc giữ toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt chưa chắc đã đương nhiên không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngược lại, việc một người có tham gia vào quá trình giao dịch cũng chưa đủ để kết luận họ là đồng phạm nếu chưa chứng minh được sự cố ý cùng thực hiện tội phạm.

4.1. Vụ án Phan Chí Lộc và các đồng phạm

Vụ án liên quan đến Phan Chí Lộc và Nguyễn Thị Hòa là một ví dụ đáng chú ý về sự phức tạp trong việc xác định hành vi đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo tài liệu được Viện kiểm sát nhân dân tối cao công bố để rút kinh nghiệm nghiệp vụ, vụ việc liên quan đến hoạt động nhận hồ sơ và tiền của những người có nhu cầu đi du học, xuất khẩu lao động và định cư ở nước ngoài.
Quá trình tố tụng đã trải qua nhiều giai đoạn với các quan điểm đánh giá khác nhau về vai trò của những người liên quan. Có thời điểm, cơ quan tố tụng cho rằng các hành vi gian dối thể hiện dấu hiệu giúp sức tích cực cho hành vi chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên, sau quá trình điều tra và xét xử kéo dài, cơ quan điều tra đã đình chỉ điều tra đối với Phan Chí Lộc và Nguyễn Thị Hòa vì hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được họ đã thực hiện tội phạm.
Vụ án cho thấy việc xác định đồng phạm phải dựa trên chứng cứ chứng minh ý thức cùng thực hiện tội phạm, chứ không thể chỉ căn cứ vào việc một người có tham gia vào một số hoạt động hoặc có liên hệ với người thực hiện hành vi gian dối.

4.2. Vụ án Trần Hồng T và các đồng phạm

Một ví dụ khác có thể tham khảo là bản án liên quan đến Trần Hồng T và các bị cáo liên quan, được công bố trên Cổng thông tin về bản án, quyết định của Tòa án. Theo thông tin bản án số 07/2025/HS-ST ngày 15/01/2025, các bị cáo Trần Hồng T và Huỳnh Ngọc T1 bị xác định phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản cùng với tội danh khác liên quan đến việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, trong khi một số người khác trong vụ án bị xử lý về hành vi bắt, giữ người trái pháp luật.
Việc các bị cáo bị xử lý về những tội danh khác nhau cho thấy cơ quan xét xử đã phân hóa trách nhiệm dựa trên hành vi thực tế của từng người, thay vì áp dụng một mức trách nhiệm chung cho tất cả những người có liên quan đến vụ việc. Đây là nguyên tắc quan trọng khi giải quyết các vụ án có nhiều người tham gia, đặc biệt trong những vụ án lừa đảo có sự phân công vai trò hoặc liên quan đến nhiều hành vi phạm tội khác nhau.

4.3. Ý nghĩa của các vụ án thực tiễn trong việc xác định vai trò đồng phạm

Các vụ án thực tiễn cho thấy việc xác định đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện chứng cứ. Không phải tất cả những người xuất hiện trong cùng một chuỗi sự kiện đều đương nhiên là đồng phạm, bởi pháp luật hình sự yêu cầu phải xác định sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ người đó có biết về thủ đoạn gian dối hay không, có cùng mục đích chiếm đoạt tài sản hay không và hành vi của họ có đóng góp thực tế vào việc thực hiện tội phạm hay không. Việc phân tích các vụ án thực tiễn vì thế giúp làm rõ ranh giới giữa người đồng phạm, người có hành vi liên quan nhưng không có ý thức phạm tội và người thực hiện hành vi độc lập.

4.4. Những vấn đề cần lưu ý khi đánh giá trách nhiệm của từng người đồng phạm

Khi đánh giá trách nhiệm của từng người trong vụ án có dấu hiệu đồng phạm, cơ quan có thẩm quyền cần đặc biệt chú ý đến các yếu tố sau:
  • Ý thức chủ quan và sự thống nhất về ý chí phạm tội: Đây là yếu tố quan trọng để xác định một người có thực sự cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội hay không. Một người chỉ có thể bị xác định là đồng phạm khi có căn cứ cho thấy họ nhận thức được hành vi phạm tội và có sự tham gia với ý chí hỗ trợ hoặc cùng thực hiện hành vi đó.
  • Vai trò thực tế trong quá trình thực hiện hành vi: Cần làm rõ người đó là người tổ chức, người trực tiếp thực hiện, người xúi giục hay người giúp sức. Mức độ tham gia của mỗi người có thể rất khác nhau, từ việc xây dựng kế hoạch, trực tiếp đưa ra thông tin gian dối đến hỗ trợ về phương tiện hoặc tạo điều kiện cho hành vi phạm tội.
  • Mối liên hệ giữa hành vi của từng người và hậu quả xảy ra: Việc một người có mặt hoặc tham gia vào một hoạt động nào đó chưa đủ để xác định trách nhiệm hình sự. Cần chứng minh hành vi cụ thể của người đó có mối liên hệ với việc thực hiện thủ đoạn gian dối và quá trình chiếm đoạt tài sản.
Việc đánh giá đầy đủ các yếu tố trên giúp bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng hành vi và tránh tình trạng suy diễn trách nhiệm hình sự chỉ dựa trên mối quan hệ hoặc sự liên quan bề ngoài giữa các cá nhân.

5. Hậu quả pháp lý đối với người đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người bị xác định là đồng phạm trong Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể phải chịu nhiều hậu quả pháp lý khác nhau. Trách nhiệm cụ thể không được áp dụng giống nhau cho tất cả các đồng phạm mà phải căn cứ vào vai trò, mức độ tham gia và các tình tiết của từng vụ án.

5.1. Trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, người đồng phạm có thể bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Khi tham gia cùng cố ý thực hiện tội phạm, mỗi người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội chung, nhưng mức hình phạt được quyết định dựa trên vai trò cụ thể của từng cá nhân. Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khung hình phạt còn phụ thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt và các tình tiết định khung như phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối theo quy định của pháp luật.

5.2. Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm

Cá thể hóa trách nhiệm hình sự là nguyên tắc quan trọng khi xử lý vụ án có đồng phạm. Điều này có nghĩa là Tòa án không áp dụng một mức hình phạt giống nhau cho tất cả những người tham gia mà phải đánh giá riêng vai trò, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi do từng người thực hiện. Người tổ chức hoặc người giữ vai trò chủ động, quyết định trong kế hoạch phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm khác với người chỉ tham gia ở mức độ giúp sức hạn chế. Việc phân hóa trách nhiệm giúp bảo đảm hình phạt tương xứng với mức độ lỗi và hành vi thực tế của từng bị cáo.

5.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới của các đồng phạm

Bên cạnh trách nhiệm hình sự, các đồng phạm còn có thể phải thực hiện trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại đã gây ra. Theo Điều 587 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại; trách nhiệm của từng người được xác định tương ứng với mức độ lỗi và nếu không xác định được mức độ lỗi thì có thể được xác định theo phần bằng nhau. Trong các vụ án lừa đảo, việc giải quyết nghĩa vụ bồi thường cần căn cứ vào thiệt hại thực tế, số tài sản bị chiếm đoạt, phần trách nhiệm của từng người và các quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ án cụ thể.

5.4. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể được xem xét

Khi quyết định hình phạt đối với người đồng phạm, Tòa án có thể xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu người phạm tội có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trên thực tế, những yếu tố như thái độ thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện khắc phục hậu quả hoặc những tình tiết khác được pháp luật ghi nhận có thể được xem xét trong quá trình lượng hình. Tuy nhiên, việc có tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa với việc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ là một trong những căn cứ để Tòa án cân nhắc mức hình phạt phù hợp.

6. Một số hình thức lừa đảo phổ biến có sự tham gia của đồng phạm

Sự phát triển của công nghệ và các phương thức giao dịch hiện đại khiến hành vi lừa đảo ngày càng đa dạng. Trong nhiều trường hợp, các đối tượng có thể phân công nhiệm vụ cho nhiều người nhằm thực hiện từng công đoạn khác nhau, từ tiếp cận nạn nhân, tạo dựng thông tin gian dối đến nhận và che giấu tài sản.

6.1. Đồng phạm trong hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng

Trong các vụ lừa đảo trên không gian mạng, nhiều người có thể tham gia vào những công đoạn khác nhau như tạo tài khoản hoặc thông tin giả, liên hệ với nạn nhân, duy trì trao đổi và hỗ trợ quá trình tiếp nhận tiền. Việc có nhiều người tham gia không tự động đồng nghĩa tất cả đều phạm tội, bởi trách nhiệm hình sự vẫn phụ thuộc vào việc có chứng minh được họ biết và cùng cố ý tham gia vào hành vi lừa đảo hay không. Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong các vụ án liên quan đến công nghệ, khi một số cá nhân có thể chỉ thực hiện công việc kỹ thuật mà không biết mục đích phạm tội.

6.2. Đồng phạm trong các vụ giả danh cơ quan, tổ chức để lừa đảo

Một hình thức phổ biến là các đối tượng sử dụng thông tin giả hoặc mạo danh cơ quan, tổ chức để tạo niềm tin cho nạn nhân. Trong những vụ việc có nhiều người tham gia, có thể xuất hiện sự phân công giữa người trực tiếp liên hệ, người hỗ trợ tạo dựng thông tin hoặc người tham gia vào quá trình tiếp nhận tài sản. Khi xử lý, cơ quan có thẩm quyền cần xác định rõ từng người có biết việc giả danh nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hay không và mức độ đóng góp của họ đối với hành vi phạm tội chung.

6.3. Đồng phạm trong hoạt động lừa đảo thông qua giao dịch tài chính, đầu tư

Một số vụ việc lừa đảo có thể được thực hiện thông qua việc đưa ra thông tin sai sự thật về cơ hội đầu tư, lợi nhuận hoặc các giao dịch tài chính nhằm khiến người khác giao tài sản. Trong trường hợp có nhiều người tham gia, trách nhiệm của từng cá nhân cần được xác định dựa trên vai trò thực tế, chẳng hạn người xây dựng thông tin gian dối, người trực tiếp giới thiệu hoặc người biết rõ mục đích phạm tội nhưng vẫn hỗ trợ quá trình thực hiện. Việc phân tích dòng tiền, thông tin liên lạc và hành vi của từng người thường có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chứng minh vụ án.

6.4. Đồng phạm trong các đường dây lừa đảo có tổ chức

Các đường dây lừa đảo có tổ chức thường có sự phân công vai trò rõ ràng giữa những người tham gia. Một số người có thể giữ vai trò tổ chức và điều phối, trong khi những người khác trực tiếp tiếp cận nạn nhân hoặc hỗ trợ các hoạt động liên quan đến việc thực hiện hành vi gian dối. Chính sự phối hợp và phân công này có thể làm tăng tính phức tạp và mức độ nguy hiểm của hành vi. Tuy nhiên, việc xác định từng người là đồng phạm vẫn phải dựa trên chứng cứ cụ thể về sự cố ý cùng thực hiện tội phạm.

7. Luật sư tư vấn Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các vấn đề hình sự bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến hình sự;
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ;
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện;
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

Như vậy, việc xử lý đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không áp dụng một mức trách nhiệm giống nhau cho tất cả những người có liên quan. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét vai trò, mức độ tham gia, ý thức chủ quan và hành vi cụ thể của từng người để xác định trách nhiệm hình sự phù hợp theo quy định pháp luật. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục hay người giúp sức đều có thể bị xử lý nếu có đủ căn cứ xác định hành vi đồng phạm. Luật A+ hy vọng những thông tin trên đã giúp bạn hiểu rõ hơn về cách pháp luật xử lý đồng phạm trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp đang liên quan đến một vụ việc cụ thể, việc tham khảo ý kiến của luật sư hoặc người có chuyên môn pháp lý sẽ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách phù hợp.

Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.

Nội dung

Các bài viết cùng lĩnh vực