Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và an toàn cộng đồng. Việc hiểu rõ quy định và cách thức xử lý tội danh này sẽ giúp người dân chủ động phòng ngừa và tố giác đúng cách. Bài viết của Luật A+ dưới đây sẽ làm rõ quy định này.
1. Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được quy định thế nào?
Căn cứ Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;b) Phạm tội 02 lần trở lên;c) Đối với người dưới 16 tuổi;d) Đối với 02 người trở lên;đ) Tái phạm nguy hiểm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là việc một người cố ý tạo điều kiện, cho phép hoặc dung túng cho người khác sử dụng ma túy trái phép tại nơi mình quản lý, sở hữu hoặc kiểm soát. Điều này có thể bao gồm việc không ngăn cản, không báo cáo cơ quan chức năng hoặc trực tiếp hỗ trợ, cung cấp địa điểm để sử dụng ma túy trái phép diễn ra. Quy định này không loại trừ việc xử lý hình sự đối với người nghiện ma túy có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy phạm tội gì?
Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi cho phép hoặc tạo điều kiện để người khác sử dụng chất ma túy trái phép tại nơi thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình, như nhà riêng, phòng trọ, cơ sở kinh doanh, v.v. Hành vi này có thể bị xử lý hình sự theo Điều 256 hoặc Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015, tùy theo tính chất, mức độ và mục đích của hành vi.
* Trường hợp bị xử lý theo Điều 256 – Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy:
Theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào vì vụ lợi mà cho thuê hay cho mượn địa điểm hoặc có hành vi tương tự nhằm chứa chấp hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khoản 1 Điều 256 quy định: “ Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Các tình tiết tăng nặng có thể dẫn đến hình phạt cao hơn (lên đến 15 năm tù), như: phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, chứa chấp nhiều người sử dụng, chứa chấp trong khu vực cấm…
Ví dụ: Chủ một căn hộ cho người khác thuê theo giờ để sử dụng ma túy, thu tiền trực tiếp từ hoạt động này nhằm mục đích chứa chấp hành vi trái phép trên có thể bị truy cứu theo Điều 256.
* Trường hợp bị xử lý theo Điều 255 – Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:
Nếu người chứa chấp không chỉ dừng lại ở việc cho phép sử dụng, mà còn tích cực tổ chức, hướng dẫn, rủ rê hoặc cung cấp công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, thì hành vi đó có thể bị xử lý theo Điều 255 với hình phạt nghiêm khắc hơn.
Khoản 1 Điều 255 quy định: “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Nếu có các tình tiết tăng nặng như tổ chức cho 2 người trở lên sử dụng, sử dụng tại cơ sở kinh doanh, sử dụng các loại ma túy đặc biệt nguy hiểm hoặc tái phạm, thì hình phạt có thể lên đến tù chung thân hoặc tử hình.
Ví dụ: Một người rủ nhiều người đến nhà mình, chuẩn bị dụng cụ để họ cùng sử dụng ma túy – hành vi đó mang tính tổ chức, có thể bị xử lý theo Điều 255.
Như vậy, nếu chỉ cho người khác sử dụng ma túy tại nơi ở/quản lý của mình mà không có hành vi tổ chức, thì bị xử lý theo Điều 256. Nếu có dấu hiệu tổ chức, hướng dẫn, lôi kéo hoặc cung cấp phương tiện, thì bị xử lý theo Điều 255 – mức phạt nghiêm trọng hơn nhiều.
Việc phân biệt hai tội này phụ thuộc vào mục đích, vai trò của người thực hiện và hành vi cụ thể trong từng vụ việc. Trong thực tiễn xét xử, việc định tội sẽ dựa vào chứng cứ thu thập được, lời khai và quá trình điều tra.
Nếu bạn đang cần tư vấn hoặc hỗ trợ pháp lý về hành vi liên quan đến chứa chấp, tàng trữ hoặc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên liên hệ luật sư để được phân tích kỹ lưỡng và bảo vệ quyền lợi chính đáng.
3. Khung hình phạt tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Căn cứ khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định:
Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;b) Phạm tội 02 lần trở lên;c) Đối với người dưới 16 tuổi;d) Đối với 02 người trở lên;đ) Tái phạm nguy hiểm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó, Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy có các khung hình phạt sau:
Khung 1: Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
– Phạm tội 02 lần trở lên;
– Đối với người dưới 16 tuổi;
– Đối với 02 người trở lên;
– Tái phạm nguy hiểm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
4. Cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là một hành vi phạm tội độc lập, được quy định cụ thể tại Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015. Tội này được xác định qua các dấu hiệu pháp lý sau đây:
* Chủ thể
Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Như vậy, chủ thể tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là cá nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017
* Khách thể
Khách thể của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy. Đồng thời, tội phạm này còn đe dọa trật tự an toàn xã hội, gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng con người và thúc đẩy sự lan rộng của tệ nạn nghiện ma túy trong cộng đồng.
* Khách quan
Mặt khách quan của tội phạm nêu trên có một trong các dấu hiệu sau đây:
Tại Tiểu mục 7 Mục 2 Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn về hành vi khách quan của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
– Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy.
– Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.
Tuy nhiên, khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng cần phân biệt như sau:
– Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
– Người nào bán trái phép chất ma túy cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy người đó còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy khác biệt rõ ràng với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nếu như hành vi tổ chức thể hiện sự chủ động lên kế hoạch, hướng dẫn hoặc điều phối việc sử dụng ma túy (chẳng hạn như rủ rê, cung cấp ma túy, phân công vai trò…), thì hành vi chứa chấp lại chỉ dừng ở mức tiếp tay hoặc tạo điều kiện thuận lợi để người khác thực hiện hành vi sử dụng.
Cụ thể, người phạm tội chứa chấp có thể thực hiện hành vi một cách chủ động, như cho thuê, cho mượn địa điểm để sử dụng ma túy; hoặc thực hiện bằng sự thụ động, như biết rõ người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở, nơi làm việc của mình nhưng không ngăn cản, cố tình làm ngơ, mặc dù có quyền và điều kiện để can thiệp. Cả hai trường hợp đều thể hiện sự đồng tình hoặc dung túng, và đều có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.
* Chủ quan
Mặt chủ quan của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được xác định là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hiểu rõ người được mình cho thuê, cho mượn địa điểm là người sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn tạo điều kiện, vẫn đồng ý để hành vi sử dụng ma túy diễn ra tại nơi mình quản lý. Đây chính là dấu hiệu thể hiện ý chí chủ động thực hiện hành vi phạm tội.
5. Quy trình khởi tố tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Việc khởi tố tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Cụ thể, quy trình này diễn ra theo các bước sau:
– Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố
Cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc các cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ tiếp nhận thông tin về hành vi chứa chấp sử dụng ma túy thông qua các hình thức như: người dân tố giác, cơ quan báo chí phản ánh, đơn thư nặc danh hoặc qua hoạt động điều tra độc lập.
Thông tin tiếp nhận phải được ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
– Thẩm tra, xác minh nguồn tin
Sau khi tiếp nhận, trong thời hạn tối đa 20 ngày (có thể gia hạn đến 2 tháng), cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh nội dung tố giác hoặc tin báo. Việc này bao gồm thu thập chứng cứ, làm việc với người bị tố giác, người có liên quan, khám xét hiện trường (nếu có), trưng cầu giám định…
– Ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Nếu qua quá trình xác minh thấy có dấu hiệu của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 Bộ luật Hình sự, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp.
Trong trường hợp không đủ căn cứ để khởi tố, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án và nêu rõ lý do, đồng thời thông báo cho người đã tố giác biết.
– Tiến hành điều tra vụ án hình sự
Sau khi vụ án được khởi tố, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra để làm rõ hành vi phạm tội, xác định đối tượng liên quan, thu thập đầy đủ chứng cứ. Có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm giam, tạm giữ nếu cần thiết.
– Khởi tố bị can và truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi có đủ căn cứ xác định một hoặc nhiều cá nhân có hành vi chứa chấp sử dụng ma túy trái phép, cơ quan điều tra sẽ khởi tố bị can, ra lệnh bắt, tạm giam (nếu cần), đồng thời chuyển hồ sơ sang viện kiểm sát đề nghị truy tố theo quy định.
– Chuyển hồ sơ truy tố và xét xử
Sau quá trình điều tra, hồ sơ sẽ được chuyển đến Viện kiểm sát để truy tố ra tòa án. Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ tiến hành xét xử công khai và tuyên án đối với người phạm tội nếu có đủ chứng cứ buộc tội.

Quy trình khởi tố tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được xây dựng chặt chẽ, đảm bảo đúng pháp luật, khách quan và công bằng. Việc tố giác sớm, cung cấp chứng cứ đầy đủ sẽ góp phần hỗ trợ cơ quan chức năng nhanh chóng xử lý và ngăn chặn tội phạm liên quan đến ma túy, bảo vệ trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng.
6. Tố cáo hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy ở đâu?
Việc phát hiện và tố giác hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy là trách nhiệm của mỗi công dân nhằm góp phần giữ gìn an ninh trật tự và phòng chống tệ nạn xã hội. Người dân có thể tham khảo các cách tố giác hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới đây:
* Trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp báo tin về tội phạm
Cách thực hiện: Bạn hoặc người đại diện cơ quan, tổ chức đến trực tiếp trụ sở cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan điều tra nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi cư trú để trình bày sự việc.
Lưu ý: Nên chuẩn bị sẵn các thông tin, chứng cứ liên quan để cung cấp cho cán bộ tiếp nhận. Bạn có thể tố giác bằng lời nói hoặc văn bản.
* Cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức gửi tố giác, tin báo về tội phạm bằng văn bản
Cách thực hiện: Soạn thảo một bản tố giác hoặc tin báo có chữ ký và thông tin cá nhân rõ ràng, mô tả chi tiết hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và các chứng cứ kèm theo (nếu có).
Nơi gửi: Nộp trực tiếp hoặc gửi đến cơ quan có thẩm quyền như công an, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan điều tra qua văn phòng tiếp nhận hoặc bộ phận một cửa.
Lưu ý: Văn bản cần trình bày rõ ràng, chính xác, tránh nội dung lan man.
* Cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin qua điện thoại trực ban của cơ quan có thẩm quyền
Cách thực hiện: Gọi điện thoại đến số trực ban hoặc đường dây nóng của cơ quan công an, viện kiểm sát, hoặc cơ quan điều tra nơi gần nhất.
Thông tin cần cung cấp: Giới thiệu rõ họ tên, địa chỉ, nội dung vụ việc, thời gian, địa điểm, đối tượng vi phạm và các chi tiết liên quan.
Lưu ý: Cố gắng trình bày ngắn gọn, rõ ràng và sẵn sàng cung cấp thêm thông tin nếu được yêu cầu.
* Cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin qua phương tiện thông tin đại chúng, hòm thư điện tử, báo nói, báo hình hoặc ứng dụng VNeID
Cách thực hiện:
Qua phương tiện thông tin đại chúng: Gửi tin tố giác đến các kênh truyền hình, báo chí có chuyên mục tiếp nhận tin báo tội phạm.
Qua hòm thư điện tử: Gửi email tố giác tới địa chỉ email chính thức của cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án.
Qua báo nói, báo hình: Liên hệ và cung cấp thông tin qua chương trình phát sóng có tiếp nhận tin báo.
Qua ứng dụng VNeID: Sử dụng chức năng gửi phản ánh, tố giác trên ứng dụng VNeID theo hướng dẫn trên ứng dụng. Cụ thể các bước như sau:
Bước 1: Đăng nhập ứng dụng VNeID bằng tài khoản đã định danh.
Bước 2: Tại giao diện chính, chọn mục “Phản ánh vi phạm”.
Bước 3: Chọn loại phản ánh là “Tội phạm ma túy”.
Bước 4: Nhập đầy đủ thông tin theo mẫu gồm:
+ Thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc.
+ Mô tả hành vi nghi vấn hoặc tội phạm cụ thể.
+ Có thể đính kèm hình ảnh, video, tài liệu liên quan.
Bước 5: Gửi phản ánh, hệ thống sẽ chuyển thông tin đến cơ quan công an nơi tiếp nhận.Lưu ý: Phải cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để cơ quan chức năng có thể xác minh và xử lý.
* Cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức tố giác, báo tin qua đơn, thư gửi qua đường bưu điện, giao liên
Cách thực hiện: Soạn thảo đơn, thư tố giác rõ ràng, có chữ ký, thông tin người tố giác, nội dung chi tiết vụ việc, sau đó gửi qua đường bưu điện đến cơ quan có thẩm quyền hoặc giao cho người giao liên (nhân viên bưu điện, người chuyên giao nhận thư).
Lưu ý: Gửi đơn, thư theo hình thức bảo đảm, có thể lưu lại biên nhận gửi thư để theo dõi.
Nhà nước khuyến khích và bảo vệ người tố giác hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, thông qua nhiều kênh tiếp nhận tố cáo linh hoạt và hiệu quả.
7. Luật sư bào chữa án Ma túy tại Luật A+
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Luật A+, chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:
- Tư vấn về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Bộ luật Hình sự, giải thích về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong vụ việc.
- Phân tích tình huống cụ thể để đánh giá khả năng bị truy tố và mức độ vi phạm, từ đó đưa ra lời khuyên về hướng xử lý.
- Hỗ trợ soạn thảo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc các tài liệu cần thiết.
- Tham gia vào quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các buổi làm việc với cơ quan điều tra.
- Đại diện khách hàng tham gia phiên tòa, bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho khách hàng tại Tòa án.
- Tìm ra các tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có, làm rõ các yếu tố có lợi để khách hàng được hưởng mức án thấp nhất hoặc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên quy định của luật.

Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ bị xử lý hình sự mà còn gây hệ lụy pháp lý nghiêm trọng. Nếu cần hỗ trợ về tư vấn hoặc bào chữa, hãy liên hệ với luật sư qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hướng dẫn đúng luật và bảo vệ quyền lợi kịp thời.

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung

