Khi lòng tin bị lợi dụng, pháp luật sẽ lên tiếng. Tổng hợp 10 bản án về tội lừa đối khách hàng không chỉ mang đến cái nhìn toàn cảnh về các vụ án nổi bật mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về cách pháp luật xử lý những hành vi gian lận trong kinh doanh. Cùng Luật A+ khám phá ngay!
1. Tổng quan pháp lý về Tội lừa dối khách hàng (Điều 198 Bộ luật Hình sự)
Hành vi trục lợi từ lòng tin của người tiêu dùng trong hoạt động thương mại luôn bị pháp luật kiểm soát và chế tài nghiêm khắc nhằm duy trì sự ổn định của thị trường. Việc bóc tách các biểu hiện sai phạm đặc trưng cùng các mức hình phạt định khung tương ứng sẽ làm rõ mức độ nghiêm trọng mà người vi phạm phải đối mặt.
1.1. Các hành vi cấu thành Tội lừa dối khách hàng phổ biến
Theo quy định tại Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), lừa dối khách hàng là hành vi gian lận của người bán/người cung cấp dịch vụ đối với khách hàng trong việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm thu lợi bất chính. Các phương thức cấu thành tội phạm phổ biến trên thực tế bao gồm:
- Cân, đong, đo, đếm gian dối: Sử dụng cân giả, cân thiếu, chỉnh sửa hệ thống trạm cân, chip điện tử nhằm làm sai lệch trọng lượng, khối lượng hàng hóa.
- Tráo đổi chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Giao hàng giả, hàng nhái, hàng thứ phẩm, kém chất lượng nhưng tính tiền theo chuẩn hàng loại 1; tự vẽ thêm các dịch vụ không có thật để thu tiền.
- Tính gian tiền khi thanh toán: Cố tình nhập sai đơn giá, gian lận trong khâu tính toán tổng tiền trên hóa đơn để trục lợi từ khách hàng.
1.2. Khung hình phạt đối với tội lừa dối khách hàng
Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và các yếu tố định khung, người thực hiện hành vi gian lận phải đối diện với các mức chế tài cụ thể.
- Khung 1 (Khoản 1): Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm áp dụng đối với trường hợp thu lợi bất chính từ 5.000.000 VNĐ đến dưới 50.000.000 VNĐ (hoặc dưới 5.000.000 VNĐ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm).
- Khung 2 (Khoản 2): Phạt tiền từ 100.000.000 VNĐ đến 500.000.000 VNĐ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Thu lợi bất chính 50.000.000 VNĐ trở lên.
- Hình phạt bổ sung (Khoản 3): Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2. Tổng hợp 10 bản án về tội lừa dối khách hàng tiêu biểu nhất
Việc nhìn lại những vụ án trên thực tế giúp nhận diện rõ các chiêu thức trục lợi tinh vi và mức hình phạt cụ thể mà người vi phạm phải gánh chịu. Những vụ án trọng điểm được A+ lựa chọn dựa trên tính chất vi phạm phổ biến sẽ phác họa toàn cảnh bức tranh pháp lý này.
2.1. Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TAND huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
Tóm tắt bản án: Đầu năm 2024, do thua lỗ, bị cáo T và H bàn bạc thực hiện hành vi gian lận khi thu mua tôm bằng cách chỉnh sửa cân đồng hồ để giảm trọng lượng mà chủ ao không phát hiện. Bị cáo T liên hệ với bị cáo L, anh Nguyễn Thanh T5 và bị cáo C1, người biết cách chỉnh cân. Nhóm này sử dụng thanh nam châm lò xo tự chế để tác động vào cân. Mỗi lần gian lận thành công, nhóm của L và T5 nhận từ 100.000 đến 170.000 đồng, tùy theo giá trị và số lượng tôm. Vào ngày 19/3/2024, các bị cáo đã đến ao tôm của anh N1, thực hiện hành vi gian lận và chiếm đoạt số tiền 463.710.000 đồng.
Nhận định của tòa án: Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lương Văn H, Lê Văn C1 và Tào Vũ L về tội “Lừa dối khách hàng” theo Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Hành vi của các bị cáo nguy hiểm, có đồng phạm, xâm phạm trật tự kinh tế và tài sản, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Mặc dù các bị cáo nhận thức được hành vi bị cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích vụ lợi, gây hậu quả nghiêm trọng.
Quyết định của Tòa án: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lương Văn H, Lê Văn C1, Tào Vũ L phạm tội “Lừa dối khách hàng” và xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 năm tù, hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Bị cáo Lương Văn H 02 năm tù, hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Bị cáo Lê Văn C1 01 năm 06 tháng tù, hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Tào Vũ L 01 năm 06 tháng tù, hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ pháp lý: điểm d, khoản 2, Điều 198; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

2.2. Bản án số 23/2024/HS-PT ngày 15/8/2024 của TAND tỉnh Sơn La
Tóm tắt vụ án: Ngày 31/7/2022, thông qua mạng xã hội Facebook, Zalo bị cáo Lê Văn H đã có hành vi đặt làm giả giấy tờ của chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai, mục đích để sử dụng các tài liệu làm giả và dùng thủ đoạn gian dối để bán chiếc xe này. Bị cáo đã bán được cho anh Giàng A C với giá 180.000.000 đồng. Căn căn cứ Kết luận định giá tài sản, trị giá của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai là 136.000.000 đồng, từ đó xác định số tiền bị cáo thu lời bất chính là 44.000.000 đồng.
Nhận định của Tòa án: Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội “Lừa dối khách hàng” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật”. Cấp phúc thẩm bác kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Quyết định của Tòa án: xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa dối khách hàng”. Cộng thêm hình phạt của tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo phải chấp hành 29 tháng 21 ngày tù.
2.3. Bản án số 160/HS-PT ngày 19/04/2024 của TAND tỉnh Đồng Nai
Tóm tắt vụ án: Nguyễn Công H2 – Giám đốc Công ty TNHH M và Nguyễn Đắc H3 cùng đấu thầu hợp đồng mua sắt phế liệu với Công ty L4 tại khu công nghiệp N. Sau khi trúng thầu, H3 không tiếp tục tham gia do thấy giá mua cao, nên H2 ký hợp đồng trực tiếp với Công ty L4.
Ngày 08/3/2023, Nguyễn Hữu H4 liên hệ mua lại hợp đồng từ H2 với chênh lệch 15 triệu đồng. H4 và H2 thỏa thuận thuê hai xe tải để vận chuyển sắt phế liệu và sử dụng thủ đoạn bơm nước vào két xe để tăng trọng lượng khi cân, sau đó xả nước ra để chiếm đoạt số sắt phế liệu tương đương. H4 thuê Nguyễn Hữu 12 và Hoàng Văn C thực hiện kế hoạch.
Ngày 09/3/2023, khi nhóm của H4 thực hiện hành vi tại trạm cân Hưng Hoàng, Công an huyện N phát hiện và bắt giữ do số sắt phế liệu không có hóa đơn chứng từ.
Nhận định của Tòa án: Bản án sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tiền án về tội “Lừa đảo dối khách hàng”, nhưng bản án của Tòa án huyện Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử trước đó đối với bị cáo chưa có hiệu lực pháp luật. Tòa cấp phúc thẩm điều chỉnh cho phù hợp.
bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm nhận định, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa cấp sơ thẩm đã xử bị cáo về tội “Lừa dối khách hàng” có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Quyết định của Tòa án: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 01 (một) năm tù về tội “Lừa dối khách hàng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/3/2023 ngày 17/3/2023.
Căn cứ pháp lý: điểm a, d khoản 2 Điều 198, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
2.4. Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của TAND tỉnh Tuyên Quang
Tóm tắt vụ án: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 5/2023, Trần Ngọc H sinh năm 1971, là Giám đốc Công ty S, trong quá trình tư vấn cho khách hàng cho 29 khách hàng cư trú trên địa bàn tỉnh T để ký kết Hợp đồng dịch vụ thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai, đã có hành vi gian dối, cố tình liệt kê những công việc mà trên thực tế không phải thực hiện, tự tính toán kê tăng chi phí phát sinh khi thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan, tổ chức có liên quan để thu tiền của khách hàng cao hơn thực tế (phần nội dung công việc và thuế, phí được khách hàng ủy quyền); sau khi trừ các khoản chi phí phát sinh khi thực hiện hợp đồng dịch vụ, số tiền còn thừa 268.616.827 đồng H không thông báo, không trả lại cho khách hàng mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết.
Nhận định của Tòa án: bị cáo Trần Ngọc H đã nhiều lần có hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều người bằng thủ đoạn gian dối; tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại trên 50.000.000 đồng; hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quyền và lợi ích hợp pháp của người khách hàng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Lừa dối khách hàng” theo điểm d khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Quyết định của Tòa án: Hội đồng xét xử đã xử phạt bị cáo Trần Ngọc H hình phạt tiền mức phạt 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).

2.5. Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 của TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tóm tắt vụ án: Ngày 02/8/2023, Đoàn Văn C, Lại Văn H và Trần Văn H đã thực hiện hành vi gian lận trong cân trọng lượng khi mua lợn của ông T bằng thủ đoạn trát bùn, cát đã mang theo từ trước vào đáy lồng kim loại, làm tăng trọng lượng lồng và giảm trọng lượng thực tế của lợn. Các bị cáo thực hiện hành vi mua gian 02 lần với tổng trọng lượng là 216kg (Hai trăm mười sáu kilogam), tương ứng với số tiền là 11.603.500đ (Mười một triệu sáu trăm linh ba nghìn năm trăm đồng.
Nhận định của Tòa án: Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Trong đó Đoàn Văn C thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người tổ chức, Lại Văn H và Trần Văn H là người thực thực hành nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung cho xã hội.
Quyết định của Tòa án: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn C, Lại Văn H và Trần Văn H phạm tội “Lừa dối khách hàng” và xử phạt:
- Bị cáo Đoàn Văn C 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ
- Xử phạt bị cáo Lại Văn H và Trần Văn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (căn cứ điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự).
Ngoài ra áp dụng hình phạt bổ sung phạt Đoàn Văn C số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng); Phạt Lại Văn H và Trần Văn H số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Căn cứ pháp lý: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và khoản 3 Điều 198 Bộ luật Hình sự.
2.6. Bản án số 390/2023/HS-ST ngày 08/12/2023 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
Tóm tắt vụ án: Vào ngày 17/6/2023, tại Công ty C1 tại khu công nghiệp N Vinatex T, huyện N, trong quá trình mua bán phế liệu Lê Đức T và Nguyễn Công Tuấn A đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm tạo ra sai lệch trong việc tính toán trọng lượng khi cân hàng hóa để chiếm đoạt 5.630 kg sắt phế liệu trị giá là 45.603.000 đồng của Công ty K. Khi đang vận chuyển số phế liệu trên thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Vì vậy có đủ căn cứ và cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Lê Đức T và Nguyễn Công Tuấn A đã phạm vào tội “Lừa dối khách hàng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.
Nhận định của Tòa án: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu về mặt an ninh và trật tự trong xã hội.
Các bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ hành vi lừa dối khách hàng nhằm chuộc lợi là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên các bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật do đó cũng cần có một hình phạt thích đáng để răn đe các bị cáo.
Quyết định của Tòa án: Tuyên bố bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Công Tuấn A phạm tội “Lừa dối khách hàng” và xử phạt:
- Bị cáo Lê Đức T 30.000.000 đồng ( ba mươi triệu đồng).
- Bị cáo Nguyễn Công Tuấn A 30.000.000 đồng ( ba mươi triệu đồng).
Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 198, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 35, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2.7. Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 03/03/2023 của TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Tóm tắt vụ án: Ngày 12/01/2021, tại Công ty TNHH P1 ở KCN P, thị xã P, trong quá trình giao nhận thép theo Hợp đồng mua bán số PV-CTC202101.01 và Phụ lục Hợp đồng số PV-CTC202101.01 ngày 07/01/2021 giữa Công ty TNHH C4 với Công ty TNHH P1, Hoàng Trọng C cùng Nguyễn Hữu L, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Đắc T1, Hoàng Đức T3, Phạm Xuân X đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm tạo ra sai lệch trong việc tính toán trọng lượng khi cân hàng hóa để chiếm đoạt 18.900kg thép thứ phẩm SH của Công ty TNHH P1, giá trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá 155.688.759đ (Một trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn, bảy trăm năm mươi chín đồng).
Nhận định của Tòa án: Hành vi mà các bị cáo thực hiện trong vụ án này đã cấu thành tội: “Lừa dối khách hàng” theo Điều 198 Bộ luật hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò, nhiệm vụ với nhau nên thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự.
Quyết định của Tòa án:
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trọng C, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Đắc T1, Hoàng Đức T3, Phạm Xuân X phạm tội “Lừa dối khách hàng” và xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Trọng C số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
- Các bị cáo Nguyễn Hữu L, Nguyễn Khắc T, Nguyễn Đắc T1, Hoàng Đức T3, Phạm Xuân X số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Căn cứ pháp lý: điểm a khoản 2 Điều 198, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật hình sự 2015.
2.8. Bản án số 67/2022/HS-ST ngày 22/09/2022 của TAND huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Tóm tắt vụ án: Đỗ Tiên P, chủ Công ty TNHH Online Sunrise, cùng bạn gái Phan Thị Minh D tìm kiếm data khách hàng rồi P hướng dẫn các nhân viên Nguyễn Thị Ái T, Lê Thị Ngọc M, Nguyễn Thị T, và Trần Thị Mộng T sử dụng thủ đoạn gian dối, giả mạo chương trình quay số trúng thưởng để lừa khách hàng mua sản phẩm với giá cao hơn thực tế. Từ tháng 01/2021 đến khi bị bắt, nhóm này đã lừa 11 khách hàng, chiếm đoạt tổng số tiền 1.064.753.000 đồng.
Nhận định của Tòa án: hành vi của Đỗ Tiên P, Phan Thị Minh D, Nguyễn Thị T, Lê Thị Ngọc M, Trần Thị Mộng T, Nguyễn Thị Ái T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa dối khách hàng”, tại điểm a, d khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự.
Quyết định của Tòa án: Tuyên bố tất cả các bị cáo phạm tội “Lừa dối khách hàng” và xử phạt:
- Bị cáo Đỗ Tiên P 12 tháng tù giam và phạt tiền 30.000.000 đồng (Điểm a, d khoản 2, khoản 3 Điều 198; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự)
- Bị cáo Phan Thị Minh D 07 tháng tù giam và phạt tiền 25.000.000 đồng (Điểm a, d khoản 2, khoản 3 Điều 198; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự);
- Bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Trần Thị Mộng T 06 tháng tù giam và phạt tiền 20.000.000 đồng (Điểm a, d khoản 2, khoản 3 Điều 198; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự);
- Bị cáo Lê Thị Ngọc M 06 tháng tù giam và phạt tiền 20.000.000 đồng (Điểm a, d khoản 2, khoản 3 Điều 198; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự);
- Bị cáo Nguyễn Thị Ái T 5 tháng 10 ngày tù giam và phạt tiền 20.000.000 đồng (Điểm a, d khoản 2, khoản 3 Điều 198; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự).

2.9. Bản án số 77/2022/HS-PT ngày 09/08/2022 của TAND TP Đà Nẵng
Tóm tắt vụ án: Phạm Công H, chủ công ty sắt thép ở Đà Nẵng, cùng nhân viên H1 và đối tác N đã thỏa thuận lập trang Facebook bán sắt thép để tìm khách hàng. Khi có khách đặt mua, N thông báo số lượng để Công H cung cấp. Cả ba dùng thủ đoạn gian dối, như đếm thiếu số lượng sắt (một cây tính thành hai cây), nhằm chiếm đoạt tài sản. Bằng cách này, họ đã lừa anh Phước H, chiếm đoạt 80 cây sắt phi 18 và 201 cây sắt phi 10, với tổng giá trị tài sản là 49.302.000 đồng.
Nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm về bản án sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo tội “Lừa dối khách hàng” với tình tiết định khung “Phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, xét thấy tội phạm trên có hình phạt tùy nghi là phạt tiền hoặc phạt tù; có cơ sở áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:
- Nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục giao đủ số sắt thép còn thiếu cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Cha bị cáo H được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo H đang nuôi mẹ bị tai biến và gia đình có 03 con nhỏ, được chính quyền địa phương xác nhận;
- H1 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được tặng thưởng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến.
Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và quyết định sửa bản án sơ thẩm:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 198; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Phạm Công H 150.000.000 đồng tội “Lừa dối khách hàng”, áp dụng biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản của Công H.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 198; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Văn H1 100.000.000 đồng về tội “Lừa dối khách hàng”, áp dụng biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản của H1.
2.10. Bản án số 173/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 của TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Tóm tắt vụ án: Nguyễn Đình N và Nguyễn Lập P cùng nhau thực hiện hành vi lừa dối với khách hàng là Công ty AHT, sau đó đã rủ thêm Lê Bá L cũng thực hiện, bắt đầu từ việc mua gắn chíp điện tử điều chỉnh trọng lượng đến việc chuẩn bị thu gom nguyên liệu, vận chuyển nguyên liệu đến kho để nhập cho Công ty AHT. Nguyễn Đình N giữ vai trò khởi xướng rì rẻ, Nguyễn Lập P là người trực tiếp đi mua và gắn chíp điện tử gian lận vào hệ thống căn của Công ty AHT, Lê Bá L là người vận chuyển nguyên liệu đến kho của bị hại. Từ ngày 10/11/2020 đến ngày 15/11/2020, các bị cáo đã thực hiện hành vi gian lận trọng lượng và thu lợi bất chính với tổng số tiền 667.875.000 đồng
Nhận định của Tòa án: Hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của pháp nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa P. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo P một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội đề răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung
Quyết định của Tòa án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lập P phạm tội: “Lừa dối khách hàng”, xử phạt bị cáo Nguyễn Lập P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/9/2020).
Căn cứ pháp lý: điểm d khoản 2 Điều 198; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP:
3. Các trường hợp được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về tội lừa dối khách hàng
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về tội lừa dối khách hàng, người phạm tội có thể được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt nếu đáp ứng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự:
3.1. Thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải và phạm tội lần đầu
Bên cạnh việc nhận thức rõ sai phạm, nhân thân và thái độ của bị cáo sau khi sự việc xảy ra là cơ sở quan trọng để xem xét giảm nhẹ, cụ thể:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi, phối hợp tốt với cơ quan điều tra để làm rõ bản chất vụ án.
- Bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
3.2. Tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại
Ý thức khắc phục hậu quả và nỗ lực hàn gắn những thiệt hại đối với nạn nhân của bị cáo được chứng minh qua các nội dung sau:
- Bị cáo hoặc gia đình chủ động hoàn trả lại số tiền thu lợi bất chính, giao bù đủ số lượng hàng hóa thiếu hụt hoặc bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất cho khách hàng (như tình tiết tại bản án của TAND TP Đà Nẵng).
- Đồng thời, nếu người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây sẽ là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét mức án khoan hồng nhất.
4. Luật sư tư vấn Tội lừa dối khách hàng
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng các vấn đề về Tội lừa dối khách hàng. Tại Luật A+, chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:
- Tư vấn về Tội lừa dối khách hàng theo Bộ luật Hình sự, giải thích về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong vụ việc.
- Phân tích tình huống cụ thể để đánh giá khả năng bị truy tố và mức độ vi phạm, từ đó đưa ra lời khuyên về hướng xử lý.
- Hỗ trợ soạn thảo đơn khiếu nại, tố cáo hoặc các tài liệu cần thiết để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
- Tham gia vào quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các buổi làm việc với cơ quan điều tra.
- Đại diện khách hàng tham gia phiên tòa, bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho khách hàng tại Tòa án.
- Tìm ra các tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có, làm rõ các yếu tố có lợi để khách hàng được hưởng mức án thấp nhất hoặc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên quy định của luật.

Bạn hoặc người thân đang vướng án hình sự? Hãy gọi gấp cho Luật sư để nhận được tư vấn phương án giải quyết kịp thời.
Tư vấn hoàn toàn miễn phí sau đó mới báo phí thuê luật sư để bạn dễ dàng quyết định!
Lý do chọn Luật A+:
Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm
Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.
Thấu hiểu
Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.
Cam kết đến cùng
Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.
5. Các câu hỏi thường gặp về tội lừa dối khách hàng (FAQ)
Những vướng mắc phát sinh trong giao dịch thương mại thường mang tính chất đa dạng và dễ gây nhầm lẫn trên thực tế. Cùng A+ giải đáp nhũng câu hỏi mang tính cốt lõi liên quan đến biên độ vi phạm và cách thức trình báo sẽ tháo gỡ trực diện các góc khuất này.
5.1. Gian lận nhiều lần, mỗi lần chỉ vài chục nghìn đồng thì có bị đi tù không?
Có thể bị đi tù. Nếu cơ quan điều tra chứng minh được hành vi gian lận có hệ thống, diễn ra nhiều lần liên tiếp (mang tính chất chuyên nghiệp) và tổng số tiền thu lợi bất chính cộng dồn đạt từ 50.000.000 VNĐ trở lên, người phạm tội sẽ bị truy cứu theo Khoản 2 Điều 198 với khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù giam.
5.2. Người mua bị cân thiếu, tính gian tiền thì cần làm gì để bảo vệ quyền lợi?
Khi phát hiện bị lừa dối về số lượng, chất lượng hàng hóa, người mua cần thu thập bằng chứng (quay video trạm cân, giữ lại hóa đơn, biên lai, mẫu hàng hóa). Sau đó làm đơn trình báo, khiếu nại lên Cục Quản lý thị trường địa phương hoặc Ủy ban cạnh tranh Quốc gia (Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) để tiến hành thanh tra, xử phạt đơn vị kinh doanh vi phạm.
5.3. Người phạm tội lừa dối khách hàng có được hưởng án treo không?
Có. Nếu người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhiều tình tiết giảm nhẹ (như thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại), có nơi cư trú rõ ràng và không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì Tòa án hoàn toàn có thể xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự (Minh chứng rõ nhất tại Bản án số 01 và Bản án số 10 nêu trên).
5.4. Ép khách hàng mua kèm combo hoặc bán giá cao hơn niêm yết có bị khép vào tội này không?
Không. Hành vi ép mua combo (bán hàng kèm điều kiện) hoặc bán sai giá niêm yết là hành vi vi phạm pháp luật về giá và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng không cấu thành tội lừa dối khách hàng vì không có yếu tố gian dối về số lượng, khối lượng hay bản chất chất lượng hàng hóa. Hành vi này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính nặng theo quy định quản lý thị trường.
5.5. Bị lừa dối khi mua hàng online qua mạng thì báo cáo cơ quan nào?
Đối với các giao dịch thương mại điện tử (Facebook, TikTok, Shopee…), nếu bị giao hàng sai mẫu mã, lừa đảo trúng thưởng để thu tiền cao, bạn cần làm đơn tố giác tội phạm gửi đến Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp quận/huyện nơi bạn cư trú để được thụ lý, giải quyết.
10 bản án về tội lừa dối khách hàng trong bài viết trên đã cho thấy pháp luật sẽ luôn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, không cho phép các hành vi lừa dối khách hàng xảy ra. Nếu bạn là nạn nhân hoặc bị can, bị cáo trong vụ án hình sự về Tội lừa dối khách hàng, hãy liên hệ ngay luật sư A+ qua email: contact@apluslaw.vn hoặc qua sđt: 0899511010 để được hỗ trợ và tư vấn kịp thời
Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
- Địa chỉ: Phòng D39, tòa nhà Fosco, 40 Bà Huyện Thanh Quan, phường Xuân Hòa, TP.HCM, Việt Nam
- Điện thoại: 0899 51 1010
- Email: contact@apluslaw.vn
Website: https://apluslaw.vn/

Tôi là Luật sư Nguyễn Duy Anh
Email: anh@apluslaw.vn
Phone: 0939698142
Website: https://apluslaw.vn/nguyen-duy-anh.html
Số thẻ Luật sư: 10674/LS
1. Học vấn:
Cử nhân, Đại học Luật Tp.HCM, 2011.
Thạc sỹ Chính sách Công, Đại học Fulbright, 2021.
2. Kinh nghiệm làm việc:
Luật Trí Minh, văn phòng HCM từ 2011-2021:
- (2011-2013) _ chức vụ Chuyên viên tư vấn;
- (2013-2014) _ chức vụ Trưởng phòng doanh nghiệp;
- (2014-2021) _ chức vụ Phó Giám đốc.
Luật A+, văn phòng HCM từ 2021 – nay:
- (2021 – nay) _ chức vụ Giám đốc Luật A+
Nội dung


