Home » Hình sự » 10 Bản án ví dụ về tội buôn bán hàng giả (cập nhập năm 2026)

Nội dung

Tin liên quan

10 Bản án ví dụ về tội buôn bán hàng giả (cập nhập năm 2026)

Hàng giả không chỉ làm mất tiền oan của người tiêu dùng mà còn làm tổn hại đến uy tín của các thương hiệu và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Trong bài viết này, Luật A+ sẽ giới thiệu 10 ví dụ về tội buôn bán hàng giả mới nhất. Mỗi câu chuyện là một vụ án thực tế giúp bạn hiểu rõ hơn về hậu quả pháp lý mà người buôn bán hàng giả phải gánh chịu.

1. Cơ sở pháp lý về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Việc xử lý vấn nạn hàng giả trên thị trường luôn dựa trên những quy định nghiêm khắc và rõ ràng của pháp luật hình sự. Việc bóc tách các văn bản gốc cùng các tiêu chí định khung sẽ làm rõ ranh giới xử phạt đối với nhóm tội danh này.

1.1. Các tiêu chí xác định hàng hóa là hàng giả hiện nay

Theo quy định pháp luật hiện hành (Bộ luật Hình sự và Nghị định 98/2020/NĐ-CP), một sản phẩm bị coi là hàng giả khi rơi vào các tiêu chí sau:

  • Giả nội dung / Giả giá trị sử dụng: Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng đã công bố.
  • Giả nhãn hiệu / Bao bì: Hàng hóa có nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bao bì bắt chước, sao chép giống hệt hoặc tương tự gây nhầm lẫn với các thương hiệu đã được bảo hộ pháp lý.
  • Giả nguồn gốc xuất xứ: Ghi nhãn mác, nơi sản xuất, đóng gói giả mạo quốc gia khác hoặc doanh nghiệp khác để đánh lừa người tiêu dùng.

1.2. Khung hình phạt đối với cá nhân kinh doanh hàng giả

Theo Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), hành vi buôn bán hàng giả của cá nhân bị xử lý hình sự khi giá trị hàng giả (tương đương giá trị hàng thật) từ 30.000.000 VNĐ trở lên (hoặc dưới 30 triệu nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án về tội này chưa được xóa án tích):

  • Khung 1 (Khoản 1): Phạt tiền từ 100 triệu đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Khung 2 (Khoản 2): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với các tình tiết: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng; Hàng giả tương đương hàng thật trị giá từ 150 triệu đến dưới 500 triệu đồng.
  • Khung 3 (Khoản 3): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu hàng giả tương đương hàng thật trị giá từ 500.000.000 VNĐ trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên.

2. Tổng hợp 10 bản án ví dụ về tội buôn bán hàng giả tiêu biểu nhất

Việc nhìn lại những vụ án điểm trên thực tế giúp nhận diện rõ các chiêu thức làm giả tinh vi bị triệt phá và khung hình phạt cụ thể mà người vi phạm phải gánh chịu.

2.1. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 153/2023/HS-PT ngày 01/06/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh

Buôn bán mũ bảo hiểm giả

Tóm tắt vụ án: Bị cáo Nguyễn VQ biết rõ mũ bảo hiểm nhãn hiệu “NS” các loại mua của bị cáo C là nón giả có giá trị thấp hơn nhiều so với giá NS chính hiệu bán trên thị trường và không có hóa đơn chứng từ rõ nguồn gốc xuất xứ nhưng vẫn mua và đã bán với số lượng khoảng 2.000 cái (gồm 1.509 cái thu giữ khi khám xét khẩn cấp trị giá tương đương hàng thật là 894.700.000 đồng và khoảng 500 cái bị cáo Q đã bán ra thị trường).

Nhận định của Tòa án: Hành vi của bị cáo Nguyễn VQ đã phạm vào tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quyết định của Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn VQ, xử phạt bị cáo Nguyễn VQ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả”.

Cơ sở pháp lý: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

ví dụ về tội buôn bán hàng giả 01
Bán mũ bảo hiểm giả là hành vi buôn bán hàng giả.

2.2. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 407/2022/HSPT ngày 19/09/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh

Buôn bán hàng giả là chất tẩy rửa. phụ gia thực phẩm

Tóm tắt vụ án: Bị cáo Nguyễn Thị H sản xuất hàng giả là các loại chất tẩy rửa như bột giặt, nước rửa chén, lau sàn và các loại phụ gia thực phẩm như hạt nêm, nước chấm,…. Sau khi sản xuất các loại hàng giả nêu trên xong, H sẽ đóng gói và cất giấu hàng tại kho hoặc xếp hàng lên xe ô tô tải để S và T chở đến các Khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương, Bình Phước, bán hàng cho các cửa hàng tạp hóa nhỏ. Đồng thời, chào bán hàng hóa, tìm kiếm khách hàng mới.

Nhận định của Tòa án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”theo điểm a khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 193 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Quyết định của Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Cơ sở pháp lý: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 192; khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.3. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 348/2022/HSST ngày 12/9/2022 của TAND TP. Hà Nội

Giả nhân viên Điện máy xanh bán bếp điện từ giả

Tóm tắt vụ án: Do có ý định kiếm tiền bất chính nên Dương Văn H đã mua bếp điện từ có giá 1.300.000 đồng/01 bếp và nồi cơm điện với giá 395.000 đồng/01 nồi cơm (để tặng kèm bếp điện từ) rồi dán tem CHEF’S, Model EH-DIH890 vào để làm giả bếp điện từ nhãn hiệu CHEF’S, Model EH-DIH890 của Công ty Cổ phần thiết bị gia dụng châu Âu có trị giá thật trên thị trường là 16.666.650 đồng/bếp, nồi cơm điện có trị giá là 4.950.000 đồng/nồi.

Sau đó, H cùng Trần Văn T sử dụng thủ đoạn giả là nhân viên công ty Điện máy xanh đi chào bán bếp với giá rẻ hơn thị trường để hưởng lợi. Trong khoảng thời gian từ ngày 31/5/2021 đến ngày 11/6/2021, Dương Văn H cùng Trần Văn T và Trương Công V giả danh nhân viên công ty Điện máy xanh bán được 05 bếp điện từ giả, chiếm đoạt tổng số tiền 24.990.000 đồng. Trần Văn T đã giúp sức cho Dương Văn H bán 04 bếp điện từ giả, cùng Dương Văn H chiếm đoạt số tiền là 19.990.000 đồng.

Nhận định của Tòa án: Có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Văn H phạm tội “Buôn bán hàng giả”theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự; Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả”theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự.

Quyết định của Tòa án: Tuyên bố bị cáo Dương Văn H và Trần Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả”, xử phạt bị cáo H 02 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo T 07 tháng 22 ngày tù.

Cơ sở pháp lý: Áp dụng: Điều 192; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 50; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự.

2.4. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 45/2024/HS-ST ngày 18/7/2024 của TAND TX Phước Long, tỉnh Bình Phước

Buôn bán hàng giả là bóng đèn Rạng Đông

Tóm tắt vụ án: Thời gian đầu tháng 9/2023, Hồ Hải Đ liên hệ với tài khoản Zalo tên “Sỉ lẻ đồ điện Trang Trần” để mua bóng đèn nhãn hiệu “Rạng Đông” với giá rẻ hơn giá mà Đ đang mua nhằm mục đích kinh doanh tại cửa hàng của mình. Khi mua bóng đèn Rạng Đông giả về bán lại đến lần thứ ba thì Đ phát hiện số bóng đèn này là hàng giả nhãn hiệu Rạng Đông do tài khoản “Sỉ lẻ đồ điện Trang Trần” không phải nhà phân phối hoặc cửa hàng của Công ty Rạng Đông, giá bán ra rẻ hơn các mặt hàng bóng đèn chính hãng do Công ty Rạng Đông sản xuất và cũng không có hoá đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tuy nhiên, Đ vẫn tiếp tục mua bóng đèn Rạng Đông giả về bán cho khách hàng để kiếm lời cao hơn.

Mai Quang L là khách hàng của Hồ Hải Đ, cùng kinh doanh lĩnh vực điện gia dụng. Nghe lời giới thiệu của Đ, Mai Quang L đã mua số bóng đèn Rạng Đông từ Đ mặc dù biết rõ đây không phải là hàng chính hãng của Công ty Rạng Đông do quá trình buôn bán Đ không đưa hóa đơn Giá trị gia tăng chứng minh nguồn gốc xuất xứ kèm theo hàng hóa và khi L hỏi về nơi lấy hàng thì Đ nói “Bí mật”.

Theo kết luận của các cơ quan chức năng, Hồ Hải Đ vào mạng xã hội đặt mua 1130 bóng đèn giả nhãn hiệu “Rạng Đông” về giao lại cho Mai Quang L và bán lẻ, thu lợi bất chính số tiền 2.214.000 đồng. L mua 489 bóng đèn giả nhãn hiệu “Rạng Đông” về giao lại cho các cửa hàng và bán lẻ, thu lợi bất chính số tiền 918.000 đồng. Căn cứ kết luận định giá, 1130 bóng đèn giả nhãn hiệu “Rạng Đông” mà Đ buôn bán tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 130.032.427 đồng (trước thuế), 140.435.021 đồng (sau thuế); 489 bóng đèn giả nhãn hiệu “Rạng Đông” mà L buôn bán tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 63.310.235 đồng (trước thuế), 68.375.043 đồng (sau thuế).

Nhận định của Tòa án: Hành vi của các bị cáo Hồ Hải Đ, Mai Quang L đã phạm vào tội tội “Buôn bán hàng giả” theo điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật hình sự

Quyết định của Tòa án: Xử phạt Hồ Hải Đ số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu Việt Nam đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Xử phạt Mai Quang L số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu Việt Nam đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Cơ sở pháp lý: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 192, Điều 17, Điều 32, Điều 35, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

ví dụ về tội buôn bán hàng giả 04
Vụ bán bóng đèn Rạng Đông giả bị phạt tiền đến hơn 100 triệu đồng.

2.5. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 171/2024/HS-PT ngày 23/9/2024 của TAND tỉnh Thanh Hóa

Buôn bán hàng giả là dung dịch vệ sinh phụ nữ

Tóm tắt vụ án: Do có mục đích vụ lợi, nên khoảng đầu tháng 02/2024 bị cáo đã có hành vi buôn bán hàng giả là dung dịch vệ sinh phụ nữ giả để thu lời bất chính. P đã đặt mua 796 chai dung dịch vệ sinh phụ nữ giả nhãn hiệu Femfresh loại 250ml, tương đương với hàng thật có giá trị 133.728.000 đồng, sau đó bán lại cho Nguyễn Thị N 273 chai với giá 59.000 đồng/01 chai, thu lời bất chính số tiền 819.000 đồng.

Nhận định của Tòa án: Hành vi của P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng giả” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 của BLHS.

Quyết định của Tòa án: Tại cấp phúc thẩm, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, nên Hội đồng xét xử chuyển từ hình phạt tù sang phạt tiền đối với bị cáo P. Cụ thể, tuyên bố Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Buôn bán hàng giả”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

Cơ sở pháp lý: Điểm a khoản 1 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

2.6. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 39/2024/HSPT ngày 16/7/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh

Buôn bán hàng giả là các loại khóa và phụ kiện khóa

Tóm tắt vụ án: Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố T kiểm tra, phát hiện, thu giữ các sản phẩm khóa và phụ kiện khóa nhãn hiệu Kin Long nhưng không có hóa đơn, chứng từ, nguồn gốc xuất xứ tại kho nhà ông Dương Đình D và tại kho Công ty CP T2. Qua kiểm tra xác minh, toàn bộ số hàng trên là của Vũ Thịnh L. Vũ Thịnh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và trình bày do nhận thức pháp luật còn hạn chế và kinh tế khó khăn, không có công ăn việc làm nên đã có hành vi cất giữ khoá và phụ kiện khoá giả nhãn hiệu Kin Long của Công ty TNHH K đã được đăng ký bản quyền để bán kiếm lời với tổng giá trị hàng hoá giả là 4.815.998.460 đồng.

Nhận định của Tòa án: Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Buôn bán hàng giả” với giá trị trên 500 triệu đồng. Do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Thịnh L về tội “Buôn bán hàng giả” theo điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Quyết định của Tòa án: Tại cấp phúc thẩm, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, nên Tòa án chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo Vũ Thịnh L 5 (Năm) năm tù về tội “Buôn bán hàng giả”

Cơ sở pháp lý: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 192; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2.7. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 16/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Buôn bán hàng giả là dao cạo râu Gillette Vector

Tóm tắt vụ án: Khoảng đầu tháng 9 đến ngày 19/9/2023, Phạm Thị K đã thông qua mạng xã hội mua 10 thùng dao cạo râu Gillette Vector giả, bên trong có tổng là 1440 bàn dao cạo râu và 11 thùng dao cạo râu Gillette Super T4 giả, bên trong có tổng là 1584 bàn dao cạo râu nhằm mục đích bán lại để thu lời bất chính, tương đương với số lượng hàng thật trị giá 69.552.000 đồng của Công ty TNHH T7, có trụ sở tại phường Y, quận H, thành phố Hà Nội là Công ty được uỷ quyền của Công ty T8, có trụ sở tại bang M, nước Mỹ đã đăng ký nhãn hàng dao cạo râu Gillette tại Cục sở hữu trí tuệ, Bộ K3. Đến ngày 21/9/2023, K chưa kịp tiêu thụ thì bị Công an huyện N phát hiện và thu giữ toàn bộ số hàng giả tại kho hàng của K, ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Nhận định của Tòa án: Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng giả”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự.

Quyết định của Tòa án: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị K phạm tội “Buôn bán hàng giả”. Xử phạt bị cáo Phạm Thị K18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng.

Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 192; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2.8. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 28/2024/HS-ST ngày 26/3/ 2024 của TAND tỉnh Thái Nguyên

Buôn bán sách giả

Tóm tắt vụ án: Khoảng cuối năm 2020, Vũ Thị H được nhân viên của Nhà sách M1 liên hệ để chào hàng, giới thiệu một số loại sách của N3. H biết trong số các loại sách được chào hàng có nhiều loại được Cao Thị Minh T tự tổ chức in ấn, sản xuất giả và bán với mức giá có chiết khấu cao gấp từ hai đến ba lần (30-60%) so với sách thật. Đến khoảng đầu năm 2021, H đã liên hệ với nhân viên của Nhà sách M1 đặt mua nhiều loại sách giả kèm với sách thật (Bài tập Tiếng Anh, Tiếng Anh lớp 10; Tập bản đồ lớp 7, 8; Vở Thực hành mỹ thuật lớp 4, 5…) mục đích để bán kiếm lời.

Theo kết luận điều tra, trong thời gian từ 15/01/2021 đến 17/6/2021, Vũ Thị H đã nhiều lần mua sách giả của Cao Thị Minh T với số lượng 153 loại = 70.346 quyển tương ứng giá in trên bìa là 2.153.604.400 đồng, giá đã chiết khấu là 941.321.080 đồng. H đã thanh toán cho T số tiền 820.512.000 đồng, còn nợ 120.809.080 đồng. Sau khi mua được sách, H bán lẻ cho khách mua tại cửa hàng và một số cá nhân khác, phần còn lại được H bán giấy vụn thu lời bất chính số tiền khoảng 40.000.000 đồng.

Nhận định của Tòa án: Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo Vũ Thị H về tội “buôn bán hàng giả”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Quyết định của Tòa án: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng giả”. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cơ sở pháp lý: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.

ví dụ về tội buôn bán hàng giả 03
Bán sách giả cũng có khả năng bị truy cứu TNHS về Tội buôn bán hàng giả.

2.9. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 22/2024/HS-PT ngày 25/4/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Long

Dùng nhãn hiệu của người khác để gắn vào hàng hóa của mình để buôn bán (mặt hàng nhang)

Tóm tắt vụ án: Vào khoảng cuối năm 2018 đến tháng 10/2022 bị cáo Huỳnh Tấn P cùng vợ là Nguyễn Ngọc L, trong quá trình sản xuất nhang nhận thấy nhang của Cơ sở V và một số nhang nhãn hiệu khác được người tiêu dùng ưa chuộng nên nảy sinh ý định làm giả nhang của các cơ sở sản xuất nhang khác. Để sản xuất nhang giả được nhiều thì ngoài việc sản xuất tại nhà, Pcòn thuê một số hộ gia công cho P với tổng số hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá: 790.430.400 đồng.

Nhận định của Tòa án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Tấn P phạm vào tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét thấy kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.

Quyết định của Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn P. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 05 (Năm) năm tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”.

(Bị cáo Nguyễn Ngọc L đã bị tuyên 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tại cấp sơ thẩm và không có kháng cáo, kháng nghị).

Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 192; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

2.10. Bản án về tội buôn bán hàng giả số 55/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Buôn bán giày giả thương hiệu NIKE, ADIDAS

Tóm tắt vụ án: Lê Quang T kinh doanh cửa hàng buôn bán giày dép tại số ấp T, xã G, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Khoảng tháng 9/2023, có một đối tượng tự xưng tên Bình (không rõ địa chỉ lai lịch) đến cửa hàng chào hàng sản phẩm giày giả các nhãn hiệu NIKE và ADIDAS với giá rẻ và nói cho T biết đây là hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu. Bản thân Lê Quang T đã được nhiều người đến hỏi mua các giày nhãn hiệu như trên nên vì vụ lợi Tú đã đồng ý mua 110 đôi giày giả trên với giá 40.000.000 đồng để bán lại kiếm lời. Sau đó, Tú đã tự niêm yết giá trực tiếp trên 110 đôi giày giả trên với tổng giá trị là 48.360.000 đồng nhưng chưa bán được đôi giày giả nào thì bị Công an huyện Thống Nhất phối hợp với Đội Quản lý thị trường số 3 và Công an xã Gia Kiệm kiểm tra và phát hiện.

Nhận định của Tòa án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất sự ổn định của thị trường, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà sản xuất các thương hiệu giày Nike và Adidas, cũng như quyền và lợi ích của người tiêu dùng. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán hàng giả bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo đã có hành vi bán hàng giả có giá trị trên 30.000.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Quyết định của Tòa án: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Buôn bán hàng giả”. Xử phạt bị cáo Lê Quang T 250.000.000đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 192, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

3. Các tình tiết bị tăng nặng và được giảm nhẹ

Mức hình phạt cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố tác động xung quanh hành vi phạm tội. Việc xác định các tình tiết làm tăng mức độ nghiêm trọng hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý sẽ quyết định trực tiếp đến mức án của bị cáo.

3.1. Xu hướng siết chặt xử lý đối với nhóm hàng hóa là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh

Qua thực tiễn xét xử, các cơ quan tố tụng đang có xu hướng siết rất chặt nhóm hàng giả liên quan đến sức khỏe con người như thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, thực phẩm chức năng (như vụ án số 02). Đặc biệt, đối với tội sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh giả, thuốc phòng bệnh giả (Điều 194), pháp luật không cần xét mốc giá trị 30 triệu đồng. Chỉ cần có hành vi sản xuất hoặc buôn bán, không kể số lượng hay giá trị là bao nhiêu, cơ quan công an sẽ khởi tố hình sự ngay lập tức do tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội.

3.2. Các tình tiết giảm nhẹ giúp bị cáo có cơ hội hưởng án treo hoặc phạt tiền

Như minh chứng từ Bản án số 04, 05 và 10, thay vì áp dụng hình phạt tù giam, Tòa án có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc cho hưởng án treo nếu bị cáo có các tình tiết:

  • Thành khẩn khai báo, ăn nới hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
  • Chủ động, tự nguyện giao nộp lại toàn bộ công cụ, phương tiện phạm tội và phối hợp thu hồi, tiêu hủy toàn bộ số hàng giả lưu thông ngoài thị trường nhằm ngăn chặn hậu quả xấu.
  • Tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả kinh tế trước khi xét xử.4

4. Cách cơ quan chức năng định giá hàng giả để quyết định khung hình phạt

Định giá tang vật là khâu mấu chốt để cơ quan điều tra quyết định bị cáo sẽ bị truy tố ở khung hình phạt nào (Khoản 1, Khoản 2 hay Khoản 3 của Điều 192). Quy trình định giá được áp dụng theo các nguyên tắc sau:

4.1. Nguyên tắc tính giá trị hàng giả theo giá của hàng thật tương ứng

Theo quy định tại Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giá trị của hàng giả thông thường sẽ được tính bằng giá bán quy định của hàng thật cùng loại hoặc hàng hóa có cùng tính năng, công dụng, nhãn hiệu được bán chính hãng trên thị trường tại thời điểm phát hiện vi phạm. Ví dụ: Một đôi giày Nike giả bạn nhập vào chỉ 100.000 VNĐ, nhưng khi định giá, cơ quan chức năng sẽ lấy giá niêm yết của đôi giày Nike thật là 3.000.000 VNĐ để nhân với số lượng, từ đó đẩy giá trị lô hàng lên rất cao và dễ bị khép vào khung hình phạt nặng (như các Vụ án số 01, số 06, số 08).

4.2. Trường hợp tính theo giá bán thực tế của hàng giả

Giá bán thực tế (hoặc giá ghi trên hóa đơn của hàng giả) chỉ được áp dụng làm căn cứ định khung trong trường hợp sản phẩm đó không thể tìm thấy sản phẩm hàng thật tương ứng trên thị trường để làm hệ quy chiếu so sánh đơn giá.

5. Luật sư tư vấn Tội sản xuất buôn bán hàng giả

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết cho khách hàng các vấn đề về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Tại Luật A+, chúng tôi cung cấp các dịch vụ sau:

  • Tư vấn về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Bộ luật Hình sự, giải thích về quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong vụ việc.
  • Phân tích tình huống cụ thể để đánh giá khả năng bị truy tố và mức độ vi phạm, từ đó đưa ra lời khuyên về hướng xử lý.
  • Tham gia vào quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các buổi làm việc với cơ quan điều tra.
  • Đại diện khách hàng tham gia phiên tòa, bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho khách hàng tại Tòa án.
  • Tìm ra các tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu có, làm rõ các yếu tố có lợi để khách hàng được hưởng mức án thấp nhất hoặc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên quy định của luật.
  • Tư vấn và hỗ trợ khách hàng xử lý khi bị phạt vi phạm hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.

Lý do chọn Luật A+:

Giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ luật sư của Luật A+ đều là các luật sư xuất sắc, nắm rõ các quy định pháp luật, hiểu cách vận hành của cơ quan tố tụng và cơ quan Đảng giám sát. Ngoài ra các luật sư A+ đã chinh chiến và dày dạn kinh nghiệm ở các vụ án hình sự.

Thấu hiểu

Luật sư A+ thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của thân chủ khi đối diện với một tình huống có thể phải ở tù, có thể sẽ bị oan sai, mong muốn được hỗ trợ hết mức 24/7 từ chuyên môn đến sự an tâm tâm lý. Vì thế chúng tôi sẽ làm hết khả năng để đem lại sự an tâm và công bằng cho thân chủ, khách hàng.

Cam kết đến cùng

Hành trình giành được công bằng cho khách hàng có thể sẽ không thuận lợi và bằng phẳng. Hành trình đó có thể phải trải qua nhiều năm với nhiều cấp xét xử. Luật sư A+ cam kết sẽ đi cùng và bảo vệ khách hàng cho đến khi nào công lý, công bằng được thực hiện.

6. Các câu hỏi thường gặp về tội buôn bán hàng giả (FAQ)

Những vướng mắc xoay quanh biên độ xử phạt và cách thức xác định giá trị tang vật luôn là tâm điểm chú ý trong các vụ án hàng giả. Việc giải đáp các câu hỏi dưới đây sẽ tháo gỡ trực diện những tình huống tranh chấp dễ gặp trên thực tế.

6.1. Chỉ lấy lại hàng từ người khác về bán, không biết là hàng giả thì có bị đi tù không?

Không bị xử lý hình sự nếu chứng minh được bản thân hoàn toàn không biết. Yếu tố cấu thành Tội buôn bán hàng giả bắt buộc bị cáo phải có lỗi “Cố ý” (tức là biết rõ hoặc buộc phải biết đó là hàng giả nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình mua bán). Nếu bạn có đầy đủ hóa đơn chứng từ đầu vào, mua đúng giá thị trường và không thể nhận biết bằng mắt thường, bạn sẽ được coi là ngay tình và không bị xử lý tội này.

6.2. Bán hàng giả giá trị bao nhiêu tiền thì sẽ bị công an khởi tố hình sự?

Theo Điều 192 Bộ luật Hình sự, công an sẽ khởi tố hình sự khi giá trị hàng giả (quy đổi theo giá hàng thật) đạt từ 30.000.000 VNĐ trở lên. Riêng đối với các mặt hàng là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì từ 0 đồng đã bị khởi tố.

6.3. Vô tình mua phải hàng giả thì người tiêu dùng phải làm gì để đòi quyền lợi?

Khi phát hiện mua phải hàng giả, người tiêu dùng cần giữ lại sản phẩm, hóa đơn mua hàng, các đoạn chat giao dịch. Sau đó, liên hệ trực tiếp với người bán yêu cầu hoàn tiền. Nếu người bán từ chối, bạn cần gửi đơn phản ánh kèm chứng cứ tới Đội Quản lý thị trường hoặc Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương để được hỗ trợ xử lý và tịch thu hàng giả.

6.4. Tài xế chở hàng, nhân viên đóng gói có bị xử tội buôn bán hàng giả không?

Có thể bị xử lý với vai trò đồng phạm (Người giúp sức). Nếu tài xế hoặc nhân viên đóng gói biết rõ lô hàng mình đang vận chuyển, đóng gói là hàng giả, hàng nhái thương hiệu nhưng vẫn đồng ý làm để nhận tiền công, hành vi này đã giúp sức trực tiếp cho chủ hàng tiêu thụ sản phẩm và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự chung vụ án (như trường hợp xe tải chở hàng trong Bản án số 02).

6.5. Công ty (pháp nhân) buôn bán hàng giả thì bị xử phạt như thế nào?

Khác với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội buôn bán hàng giả sẽ bị áp dụng các hình phạt nghiêm khắc theo Khoản 5 Điều 192: Phạt tiền từ 1.000.000.000 VNĐ đến 9.000.000.000 VNĐ; bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu phạm tội gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến kinh tế, xã hội.

Từ các ví dụ về tội buôn bán hàng giả thông qua 10 bản án tiêu biểu trên, có thể thấy rõ sự nghiêm minh và quyết liệt của pháp luật trong việc xử lý hành vi này. Đây chính là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ cho các cá nhân, tổ chức có ý định kinh doanh gian dối. Nếu bạn cần hỗ trợ pháp lý trong vụ án buôn bán hàng giả, hãy liên hệ ngay luật sư A+ qua hotline 0899.511.010 hoặc email: contact@apluslaw.vn để được tư vấn kịp thời.

Công Ty Luật TNHH A+ là phòng pháp chế của doanh nghiệp, đưa giải pháp và tư vấn kịp thời, toàn diện các lĩnh vực, mang lại hiệu quả, an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.

Nội dung

Các bài viết cùng lĩnh vực