Home » Bài viết pháp luật » Tổng hợp các bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Tổng hợp các bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Để giúp quý khách hàng có được góc nhìn thực tế và khách quan hơn về vấn đề tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, luật sư A+ đưa ra các tình huống thực tế gồm 05 bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

1. Bản án số: 688/2018/DS-PT NGÀY 18/7/2018 TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 19/12/2014 ông K, là đại lý bảo hiểm của Công ty M, có tư vấn cho bà N về hợp đồng bảo hiểm. Trong quá trình kê khai thông tin người mua bảo hiểm, ông K đã tự ghi nhận về các tình trạng sức khỏe của bà N tại Đơn yêu cầu bảo hiểm nhân thọ.

Và cùng ngày, bà N đã ký đơn yêu cầu bảo hiểm nhân thọ với Công ty M, và khai nhận người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm (100%) là ông M.

Ngày 20/3/2015, bà N có đơn yêu cầu công ty thanh toán chi phí điều trị bệnh tại bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 12/02/2015 đến ngày 25/02/2015 nhưng phía công ty có văn bản từ chối thanh toán, bà N và gia đình có nhận được văn bản này.

Ngày 19/12/2015 bà N chết vì bệnh; sau khi bà N chết, nguyên đơn ông M đã yêu cầu công ty xem xét thực hiện các quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng nhưng công ty từ chối với lý do bà N không khai báo có bệnh suy thận khi mua bảo hiểm nên phát sinh tranh chấp.

Tuy nhiên, ông M từ chối lý do Công ty M đưa ra với lý do đơn yêu cầu bảo hiểm do ông K, người của Công ty M, khai nhận; và khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Công ty M phải trả cho ông số tiền bảo hiểm là 150.000.000 đồng.

Tại phiên xét xử sở thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm bác đơn yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Không đồng ý với quyết định của Tòa án sơ thẩm, ông M tiếp tục có đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm, yêu cầu giải quyết vụ việc.

Nhận định và quyết định của Tòa án:

a. Nhận định của Tòa án:

Tại Điều 7 Hợp đồng bảo hiểm, điểm b khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực của người mua bảo hiểm; mặt khác, cuối Hợp đồng bảo hiểm có nội dung người mua đã đọc, được nghe đại lý bảo hiểm đọc lại, giải thích toàn bộ nội dung tại đơn yêu cầu bảo hiểm. Vì thế, người mua bảo hiểm đã hoàn toàn hiểu rõ và chịu trách nhiệm với toàn bộ nội dung tại đơn yêu cầu, cũng như hợp đồng bảo hiểm; từ đó kết luận, yêu cầu của nguyên đơn không có cơ sở.

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
  • Bộ Luật Dân sự năm 2005.
bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 02
Tình huống tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ giữa công ty bảo hiểm với cá nhân.

2. Bản án số: 01/DS-PT NGÀY 12/02/2021 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

Tóm tắt vụ việc:

Chị H là đại lý bảo hiểm của Công ty A; và là chị em họ của anh C. Năm 2016, chị H có tư vấn cho anh C tham gia bảo hiểm nhân thọ; và anh C đã đồng ý tham gia.

Ngày 15/11/2016, Công ty A phát hành thư chấp nhận bảo hiểm đối với anh C. Anh C tham gia đóng bảo hiếm đến ngày 15/5/2018. Sau đó, do không tiếp tục thanh toán phí nên Công ty A đã thông báo chấm dứt hợp đồng.

Tuy nhiên, cùng năm đó, anh C có viết phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng; nhưng phần thông tin sức khỏe của phiếu đó anh C không tích mà gửi cho chị H tiếp tục hoàn thiện. Tuy rằng trước đó, anh C đã tham gia điều trị sơ gan tại Bệnh viên N.

Ngày 26/7/2018, Công ty A gửi thư phúc đáp khôi phục hiệu lực hợp đồng cho anh C từ ngày 26/7/2018. Anh C tiếp tục tham gia bảo hiểm đến ngày 15/8/2019.

Ngày 16/8/2019, anh C chết đột tử.

Ngày 4/9/2019, chị H1, vợ anh C, gửi đơn yêu cầu Công ty A thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho anh C.

Ngày 12/01/2020, chị H1 nhận được thư phúc đáp từ công A từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm hiểm do anh C không trung thực trong việc cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe.

Sau đó, chị H1 khởi kiện ra Tòa án sơ thẩm yêu cầu Công ty A giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho anh C. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị C và quyết định bác đơn khởi kiện của chị H1.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, chị H1 kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giải quyết vụ việc.

Nhận định và quyết định của Tòa án phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án phúc thẩm:

Từ trước ngày viết phiếu khôi phục hiệu lực hợp đồng anh C đã điều trị xơ gan tại bệnh viện N; tuy nhiên, thông tin này không được anh C ghi nhận. Vì vậy, anh C đã có hành vi khai gian dối về tình trạng sức khỏe của mình khi giao kết phục hồi lại hợp đồng bảo hiểm nhằm hưởng quyền lợi bảo hiểm.

Vì thế, hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty A và anh C bị vô hiệu do lừa đối theo điểm d khoản 1 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm và Điều 127 Bộ Luật dân sự năm 2015. Theo đó, Công ty A phải hoàn lại phí cho anh C đã đóng từ ngày 26/7/2018 và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị chấm dứt.

Về lời khai của chị C, chị C cho rằng mình đã vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm nên căn cứ vào Điều 88 Luật kinh doanh bảo hiểm thì Công ty A phải bồi thường cho anh C và chị C sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng căn cứ theo Điều 88 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Công ty A chỉ chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm trong điều kiện người mua bảo hiểm có thiệt hại về quyền lợi. Tại trường hợp này, lời khai của chị C dù có thật hay không, vẫn không làm ảnh hưởng quyền lợi của anh C nên Tòa án từ chối giải quyết.

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và vẫn y án sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
  • Bộ Luật Dân sự năm 2015.

3. Bản án số: 313/2016/DS-PT NGÀY 16/3/2016 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (ÁN LỆ SỐ 22/2018/AL)

Tóm tắt vụ án:

Năm 2009, bà H có ký kết 02 hợp đồng bảo hiểm với Công ty C.

Năm 2010, bà H chết; ông L, chồng bà H, yêu cầu Công ty C thực hiện chi trả cho 02 hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, Công ty này từ chối với lý do trước khi giao kết 02 hợp đồng bảo hiểm trên, bà H có tiền sử đau dạ và mỡ trong máu nhưng không khai báo trong bảng câu hỏi tại đơn yêu cầu bảo hiểm. Cụ thể, tại câu hỏi số 54 Đơn yêu cầu bảo hiểm bà H khai nhận không thường xuyên bị rối loạn dạ dày; tại câu hỏi số 61 bà H khai nhận trước ngày ký kết hợp đồng bà H không thực hiện việc thử máu. Do vậy, căn cứ theo Điều 1.2 Quy tắc và điều khoản hợp đồng, Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm Công ty quyết định hủy bỏ 02 hợp đồng bảo hiểm với bà H.

Không đồng ý với giải thích trên của Công ty C, ông L quyết định khởi kiện và yêu cầu Công ty C thực hiện chi trả quyền lợi tại 02 hợp đồng bảo hiểm.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn chi trả cho nguyên đơn các quyền lợi tham gia bảo hiểm.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty C quyết định kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm.

Nhận định và quyết định của Tòa án phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Căn cứ theo các điều: khoản 2 Điều 407, khoản 4 Điều 409 Bộ Luật Dân sự năm 2005; Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về việc giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên không đưa ra hợp đồng mẫu trong trường hợp các điều khoản tại hợp đồng không rõ ràng.

Tại câu hỏi số 54 đơn yêu cầu bảo hiểm, bị đơn cho rằng bà H đã không trung thực khi trên thực tế bà H có tiền sử bị đau dạ dày nhưng không khai nhận tại mục rối loạn dạ dày là không có căn cứ. Vì Công ty C không giải thích được các chứng cứ chứng minh, bằng chứng khoa học nào xác định đau dạ dày là chịu chứng của rối loạn dạ dày.

Tại Câu hỏi số 61 đơn yêu cầu bảo hiểm, bị đơn cho rằng bà H không trung thực khi khai nhận không thực hiện xét nghiệm trong khoảng thời gian 05 năm trước khi tham gia hợp đồng bảo hiểm; vì thực tế, tại đơn vị công tác bà vẫn thực hiện xét nghiệm máu tại buổi khám sức khỏe định kỳ do đơn vị tổ chức. Tòa án phúc thẩm không đồng ý với nhận định do việc khám sức khỏe định định tại cơ quan, tổ chức thực hiện một cách thường xuyên và định kỳ, không thuộc các trường hợp người mua bảo hiểm khám sức khỏe do đau ốm hoặc cảm thấy các biểu hiện bất thường của cơ thể; hơn nữa, bà H không buộc phải biết các biện pháp lấy máu có phục vụ cho việc xét nghiệm hay không; và kết quả buổi khám sức khỏe cho biết bà H không có các dấu hiệu bất thường. Vì thế, bà H hoàn toàn có quyền giao kết hợp đồng với Công ty C, và không có biểu hiện của việc gian dối trong việc khai nhận phiếu yêu cầu bảo hiểm.

Hơn nữa, tuy rằng theo quy tắc và điều khoản của sản phẩm bảo hiểm của Công ty C có nội dung nếu bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định đánh giá chấp nhận bảo hiểm thì công ty có thể hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng không có hiệu lực ngay từ đầu. Nhưng Công ty C lại không đưa ra được các cơ sở, tiêu chí đánh giá thế nào là ảnh hưởng quyền lợi nghiêm trọng.

Tại Phiếu thanh toán và xác nhận hoàn thành trách nhiệm bảo hiểm ngày 15/09/2010, tại mục 3 phiếu này, tuy rằng ông L có xác nhận Công ty C đã thanh toán đầy đủ và không có trách nhiệm gì đối với việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Nhưng xét thấy việc ký vào Phiếu thanh toán và xác nhận hoàn thành trách nhiệm bảo hiểm ngày 15/9/2010 của ông L không làm mất đi quyền lợi khởi kiện của ông L.

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Bộ Luật Dân sự năm 2005;
  • Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

4. Bản án số: 599/2018/DS-PT NGÀY 20/6/2018 TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt vụ án:

Ngày 30/6/2016 và ngày 08/10/2012, bà N có ký kết 02 hợp đồng bảo hiểm với Công ty M với nội dung Công ty M trợ cấp tiền mặt mỗi ngày năm viện cho bà N.

Sau khi giao kết hợp đồng bà N nằm điều trị tại Bệnh viện L. Tuy nhiên, Công ty M từ chối trợ cấp viện phí với lý do không cần thiết về mặt y khoa, không cần thiết phải điều trị nội trú theo quy định tại cả 02 hợp đồng.

Không đồng ý với ý kiến của Công ty M, bà N quyết định khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty M phải thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho bà N.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty M quyết định kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm, yêu cầu thành lập Hội đồng chuyên môn trưng cầu giám định phương thức và thời gian điều trị đối với các bệnh bà N mắc phải.

Nhận định và quyết định của Tòa án phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Về lý do từ chối không thanh toán quyền lợi của nguyên đơn, HĐXX xét thấy không có điều khoản nào loại trừ quyền lợi trợ cấp nằm viện cho loại bệnh bà N mắc phải; cũng không có chứng cứ chứng minh về nội dung cần thiết về mặt y khoa.

Mặt khác, yêu cầu trưng cầu giám định tại Hội đồng chuyên môn là không có căn cứ. Bởi lẽ, căn cứ theo Điều 73, 74 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 thì chỉ thành lập Hội đồng chuyên môn khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra tai biến đối với người bệnh để xác định có hay không sai sót về mặt chuyên môn.

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn, giữ y án sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
  • Bộ Luật Dân sự năm 2005;
  • Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.
bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 03
Các ví dụ về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

5. Bản án số: 538/2009/DS-PT NGÀY 31/3/2009 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (ÁN LỆ SỐ 23/20../AL)

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ông L có ký kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty P, do bà N là đại lý bảo hiểm trực tiếp tư vấn. Tại hợp đồng thỏa thuận việc thu phí bảo hiểm sẽ do bà N đảm nhiệm và thu trực tiếp tại nhà ông L.

Ngày 24/6/2005, ông L nộp phí bảo hiểm lần II sau khi được gia hạn đóng phí 2 tháng.

Sau đó, đến kỳ hạn cuối của thời gian gia hạn đóng bảo hiểm thì bà N do phải đi học chính trị ở tỉnh nên không thu phí tại ông L được.

Ngày 27/8/2005, ông L chết; bà T, vợ ông L, yêu cầu Công ty P thanh toán quyền lợi bảo hiểm nhưng công ty này từ chối với lý do hợp đồng bảo hiểm đã mất hiệu lực 03 ngày do chậm đóng tiền bảo hiểm.

Bà T quyết định khởi kiện đến Tòa án nhân dân yêu cầu Công ty P giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho chồng bà, và yêu cầu Công ty P thanh toán lãi chậm trả do vi phạm hợp đồng bảo hiểm.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Bà T quyết định kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi tham gia bảo hiểm.

Nhận định và quyết định của Tòa án phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Xét thấy lý do từ chối yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho bà T của Công ty P là không có cơ sở. Vì, việc ông L không đóng tiền bảo hiểm không phát sinh từ lỗi của ông L; tại hợp đồng quy định rõ, bà N với tư cách là nhân viên công ty có trách nhiệm thu tiền bảo hiểm, nhưng do bà N không đến mới dẫn đến quyền, lợi ích của ông L bị ảnh hưởng. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về yêu cầu thanh toán lãi chậm trả, xét thấy tại giấy chứng nhận bảo hiểm do Công ty P cấp cho ông L không thể hiện điều khoản về lãi suất, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà T.

b. Quyết định của Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, buộc công ty P có trách nhiệm giải quyết quyền lợi cho bà T.

Không chấp nhận yêu cầu thanh toán lãi chậm trả của nguyên đơn.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

6. Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng.

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các tranh chấp hợp đồng bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp
  • Tư vấn phương án giải quyết tranh chấp (hòa giải, khởi kiện..)
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ
  • Đại diện đàm phán tranh chấp
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án, trọng tài thương mại

Lý do chọn Luật A+:

Kết quả bền vững, cam kết bảo vệ đến cùng.

Để được nhận kết quả tốt, theo đúng quy định pháp luật, nhận giá trị lâu dài mà không phải làm điều sai trái, không hối lộ, không e ngại sợ hãi cơ quan công quyền.

Sự tử tế.

Được chăm sóc như người thân, ân cần, chân thành, giải thích cặn kẽ, liên tục, luôn bên cạnh trong suốt quá trình thực hiện công việc. Chúng tôi luôn bên bạn lúc thăng hay trầm.

Giỏi chuyên môn

Luật sư nhiều kinh nghiệm, hiểu rõ cách vận hành pháp luật của cơ quan nhà nước, hiểu rõ quy luật vận hành của các mối quan hệ trong xã hội để giải quyết vụ việc trọn vẹn.

Thông qua 5 bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã đề cập ở trên, quý khách hàng đã hiểu hơn về vấn đề này từ đó có thể đưa ra được phương hướng xử lý phù hợp. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, quý khách hàng vui lòng liên hệ luật sư A+ để được hỗ trợ và tư vấn.

Call Now

Call Now