Home » Bài viết pháp luật » Một số vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải tại Việt Nam.

Một số vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải tại Việt Nam.

Để giúp quý khách hàng có được góc nhìn thực tế và khách quan hơn về vấn đề tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải, luật sư A+ đem đến cho khách hàng các tình huống thực tế gồm 05 bản án tranh chấp hợp đồng hàng hải tại Việt Nam.

1. Bản án số: 08/2017/DS-PT NGÀY 12/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Tóm tắt nội dung vụ án:

Ngày 01/8/2016, tàu cá BĐ-TS do anh L làm thuyền trưởng đăng ký mua bảo hiểm tại Công ty P.

Ngày 20/7/2016, anh L ra khơi khai thác hải sản câu cá ngừ. Đến ngày 12/8/2016 tàu quay vào bờ để bán hải sản đến tọa độ 16005’N, 116015’E thì gặp sự cố nước tràn vào tàu do tàu bị vỡ tại thân tàu. anh L và các thuyền viên đã cố bơm nước ra ngoài nhưng không kịp vì nước quá nhiều làm ngập máy chính không thể bơm nữa nữa, tàu chìm. Anh L và các thủ thủ đã được ứng cứu.

Anh L đã báo tình hình tổn thất cho Công ty P, nhưng Công ty này không chịu bồi thường vì cho rằng tọa độ tàu chìm không nằm trong vùng hoạt động của tàu theo đăng kiểm thuộc loại trừ bảo hiểm.

Sau đó, Anh L khởi kiện, yêu cầu Tòa giải quyết buộc Công ty P chi trả bảo hiểm do sự cố chìm tàu.

Bản án sơ thẩm quyết định: Buộc Công ty P bồi thường bảo hiểm tàu cá cho anh L.

Không chấp nhận quyết định, Công ty P quyết định kháng cáo đến Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm.

Nhận định và quyết định của Tòa án:

Xét thấy cơ quan đăng kiểm đã cấp giấy phép phân vùng hoạt động hạn chế III cho tàu cá anh L đã không đúng quy định tại khoản 2 Điều 17 Quy chế đăng kiểm tàu cá ban hành theo Quyết định số 96/2007/QĐ-BNN ngày 28/11/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông, cụ thể: “Cơ quan đăng kiểm tàu cá trao cấp, duyệt lại cấp và phục hồi cấp cho tàu cá. Chỉ tiến hành phân cấp đối với các tàu cá có hồ sơ kỹ thuật“, và tại điểm a, khoản 2, Điều 5 Nghị định 33/20210/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của các tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển quy định “Tàu lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90 CV trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển cá, không được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng” (Vùng khơi có điểm gần bờ nhất khoảng 36 hải lý). Vì tàu cá BĐ-TS đóng theo mẫu dân gian, không có hồ sơ kỷ thuật và có tổng công suất 400CV được phép hoạt động trên vùng biển xa.

Mặc khác, Cơ quan đăng kiểm tàu cá Bình Định chỉ ghi việc phân cấp vùng hoạt động hạn chế III là khuyến cáo ngư dân trang bị theo tiêu chuẩn để nâng cao an toàn cho tàu cá khi hoạt động ở vùng khơi của Việt Nam. Trong khi đó, theo hợp đồng Bảo hiểm ghi Phạm vi hoạt động của tàu trên vùng biển Việt Nam.

Hơn nữa, tại giấy phép tàu do UBND cấp cho phép tàu ông L được hưởng chế độ đánh bắt xa bờ; Trạm kiểm soát biên phòng cũng chấp thuận đề tàu ông L ra vùng biển Hoàng Sa đánh bắt hải sản.

Cùng với các khuyến khích của Nhà nước cho ngư dân vương khơi, bám biển bảo vệ chủ quyền.

Từ các lý do đó, Tòa án không chấp nhận quyền từ chối bồi thường của Công ty P

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty P, giữ y án sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Bộ Luật Hàng hải;
  • Quyết định số 96/2007/QĐ-BNN;
  • Nghị định 33/20210/NĐ-CP.

2. Bản án số: 05/2019/KDTM-PT NGÀY 26/4/2019 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Tóm tắt vụ án:

Công ty B có cấp Đơn bảo hiểm cho chủ tàu là bà Võ G, thời hạn bảo hiểm từ ngày 14-02-2016 đến ngày 13-02-2017, bà G đã nộp đủ phí bảo hiểm.

Trong thời hạn bảo hiểm, tàu cá bị va phải đá ngầm vào ngày 22-6-2016 nên bị chìm tại khu vực Đảo P, tỉnh Bình Thuận.

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, chủ tàu là bà G đã báo với Công ty B và thuê trục vớt, sửa chữa. Sau đó đã cung cấp các thông tin và hồ sơ sửa chữa nhưng Công ty B không bồi thường với lý do phía chủ tàu vi phạm quy chế bảo hiểm, tàu trên 350CV nhưng trên tàu không có máy trưởng có bằng hạng tư.

Bà G cho rằng tại thời điểm xảy ra tai nạn, trên thuyền có sự có mặt của máy trưởng là ông T5. Điều này đã được Đồn Biên phòng xác nhận tại danh sách thuyền viên bổ sung ngày 29/5/2016.

Bà G quyết định khởi kiện ra Tòa án nhân dân, yêu cầu Công ty B do sự cố thuyền xảy ra.

Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện phía nguyên đơn, yêu cầu Công ty B có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà B.

Công ty B không chấp nhận quyết định của bản án sơ thẩm, quyết định kháng cáo.

Nhận định và quyết định của Tòa án nhân dân phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Qua chứng cứ các đương sự cung cấp và chứng cứ Tòa án thu thập, thấy rằng tàu cá bà G có đăng ký danh sách thuyền viên lần đầu là 08 người, trong đó có ông Nguyễn Ngọc T5. Khi đăng ký xuất bến ngày 28-5-2016 tại Trạm kiểm soát Bộ đội biên phòng B, danh sách đăng ký xuất bến có 03 người được bà G đăng ký ngày 28-5-2016 không có ông T5 và đăng ký sau vào ngày 29-5-2016 thêm 01 người nữa là ông Nguyễn Ngọc T5, tổng cộng là 04 người. Trong đó, ông Nguyễn Minh H3 có bằng Thuyền trưởng tàu cá hạng tư, ông Nguyễn Ngọc T5 có Chứng chỉ Máy trưởng tàu cá hạng tư do.

Còn những ý kiến Công ty B về việc ông T5 không có mặt tại tàu cá tại thời điểm xảy ra tai nạn chỉ là nghi vấn, nay không thể chứng minh được.

b. Quyết định của Tòa án:

Chấp nhận một phần phúc thẩm của Công ty B về mức bồi thường; không chấp nhận kháng cáo về việc không bồi thường thiệt hại cho bà G.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Bộ Luật Hàng hải.
bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải 02
Hình ảnh minh họa sự cố chìm tàu.

3. Bản án số: 173/2018/KDTM-PT NGÀY 30/11/2018 TÒA ÁN NHÂN DÂN HÀ NỘI

Tóm tắt bản án:

Ngày 12/10/2011, các bên gồm Công ty PTVN  sau đây gọi tắt là nguyên đơn), Công ty cổ  BĐ (sau đây gọi tắt là bị đơn) và Công ty MH (sau đây tắt gọi là người liên quan) đã ký Hợp đồng bảo hiểm tàu biển.

Ngày 31/10/2011, tàu MH chở khoảng 1.500 tấn hàng từ cảng Đà Nẵng đi cảng Hải Phòng. Khi đến vùng biển vịnh Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế thì xảy ra tai nạn. Người liên quan đã thông báo ngay sự việc cho nguyên đơn, bị đơn và các đơn vị liên quan khác phối hợp xử lý vụ việc.

Ngày 12/9/2012 giữa đại diện nguyên đơn, bị đơn, người liên quan và Công ty Cửa Việt (đơn vị phối hợp kéo tàu mắc cạn). Tại Biên bản này, đại diện bị đơn cũng đưa ra cam kết “sẽ phối hợp với đơn vị giám định sớm tiến hành giám định tổn thất của tàu”.

Ngày 08/10/2012, bị đơn có Công văn số 4420 thông báo từ chối bồi thường sự cố mắc cạn tàu MH vì lý do tàu MH thiếu đại phó.

Nguyên đơn cho rằng việc thiếu đi thuyền phó là nguyên nhân khách quan, vì tại thời điểm tàu khởi hành, thuyền phó gặp vấn đề về tình trạng sức khỏe. Hơn nữa, việc thiếu đi thuyền phó không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến sự cố tàu chìm.

Nguyên đơn tiến hành khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm và lãi chậm trả.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định: buộc bị đơn phải bồi thường tiền bải hiểm cho nguyên đơn; nhưng không chấp nhận yêu cầu thanh toán lãi chậm trả.

Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cầu Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả hợp đồng bảo hiểm; Bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn.

Nhân định và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Hội đồng xét xử nhận thấy, tàu MH thiếu đại phó tại thời điểm tàu bị mắc cạn ở vùng biển vịnh
Lăng Cô và ngày 03/12/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Phạm Hữu Hoa, thuyền trưởng tàu MH.

Chức năng của đại phó theo quy định của pháp luật không phải là người chỉ huy cao nhất trên phương tiện, tại Điều 9 Quyết định số 29/2008/QĐ- BGTVT ngày 16/12/2008 của Bộ Giao thông vận tải quy định nhiệm vụ của đại phó là trực tiếp tổ chức, quản lý, khai thác tàu, phục vụ đời sống, sinh hoạt, trật tự kỷ luật trên tàu, quản lý và điều hành trực tiếp bộ phận boong, bộ phận phụ vụ và y tế trên tàu, giúp thuyền trưởng chỉ đạo các công việc của các sỹ quan boong khi tàu hành trình, … trực ca từ 04 giờ đến 08 giờ và từ 16 giờ đến 20 giờ trong ngày. Như vậy, tại thời điểm xảy ra tai nạn cũng không phải ca trực của đại phó trên tàu.

Tàu MH đã được Giám đốc Cảng vụ Đà Nẵng cấp Giấy phép rời cảng theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Bộ luật hàng hải. Giấy phép rời cảng là căn cứ chứng minh cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tàu đủ điều kiện về an toàn hàng hải khi bắt đầu chuyến đi. Bị đơn cho rằng theo Điều 246 Bộ luật hàng hải miễn trách nhiệm đối với người bảo hiểm và các khoản 1, 6 Điều 7 Quy tắc bảo hiểm thân tàu và khoản 2 Điều 1 Hợp đồng bảo hiểm để từ chối trách nhiệm bảo hiểm là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tai nạn của tàu MH được xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo điểm b khoản 1 Điều 3 Quy tắc bảo hiểm thân tàu và buộc bị đơn phải thanh toán tiền bồi thường theo Hợp đồng bảo hiểm đã ký giữa ba bên là hoàn toàn đúng quy định của Hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật liên quan.

Vì thế, lý do bị đơn từ chối bồi thường tiền bảo hiểm là không có căn cứ.

b. Quyết định của Tòa án: 

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo thanh toán lãi suất chậm trả của nguyên đơn.

c. Cơ sở pháp lý:

  • Bộ Luật Hàng hải;
  • Nghị định 71/2006/NĐ-CP;
  • Quyết định số 29/2008/QĐ-BGTVT;
  • Quyết định số 66/2005/QĐ-BGTVT;
  • Luật Kinh doanh bảo hiểm.

4. Bản án TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Tóm tắt vụ việc:

Vào ngày 03/11/2015 bà L có mua bảo hiểm của Công ty T.

Vào khoảng 01 giờ ngày 25/4/2016, tại cầu cảng kho hàng của Công ty B thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre xảy ra sự cố sà L bị chìm.

Sau sự cố, Công ty T có văn bản bồi thường đồng ý bồi thường cho bà L 70% nhưng phải trừ lại 2% theo thỏa thuận trong giấy bảo hiểm nên thực tế Công T và Công ty T đã ứng trước cho bà L số tiền 400.000.000 đồng. Với lý do thuyền trưởng không làm thủ tục cảng vụ; cảng thủy nội địa không đảm bảo an toàn cho tàu vào cảng, không có báo hiệu đường thủy nội địa theo quy định; chủ tàu thanh lý hàng hóa chưa đầy đủ thủ tục cụ thể là chưa có giấy ủy quyền, không có hóa đơn thanh lý hàng hóa.

Bà L không đồng ý với việc Công ty T chỉ bồi thường cho bà 70% giá trị thiệt hại nên bà khởi kiện yêu cầu Công ty L bồi thường 100% giá trị thiệt hại là, trừ 2% theo thỏa thuận trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Công ty đã tạm ứng cho bà L 400.000.000 đồng, do đó bà L yêu cầu bồi thường số tiền còn lại. Bà L yêu cầu tính lãi suất trong 04 tháng từ ngày 13/10/2016 với lãi suất 0,7%/tháng.

Bản án sơ thẩm tuyên xử: Buộc Công ty L có trách nhiệm thanh toán tiền bảo hiểm cùng lãi chậm trả cho bà L.

Ngày 09/10/2017 và ngày 16/10/2017, Công ty L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.

Nhận định và quyết định của Tòa án:

a. Nhận định của Tòa án:

Thứ nhất, sự cố chìm tàu là do khuất tầm nhìn, trời tối và cấn cạn do bồi đắp của phù sa khiến sà L bị nghiêng về bên trái. Do vậy, đây là nguyên nhân khách quan chứ không phải là hành động vô ý hay cẩu thả của thuyền trưởng nên không thuộc vào điểm loại trừ trách nhiệm như phía bị đơn trình bày.

Thứ hai việc cảng thủy nội địa không đảm bảo an toàn cho tàu vào cảng, không có báo hiệu đường thủy nội địa cũng không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm và cũng phải là lỗi của thuyền trưởng.

Thứ ba, phía bị đơn cho rằng chủ tàu thanh lý hàng hóa chưa đầy đủ thủ tục cụ thể là chưa có giấy ủy quyền, không có hóa đơn thanh lý hàng hóa. Trên thực tế, sau khi xảy ra sự cố các bên đã thống nhất mức thiệt hại, phía bà L đã xử lý và bồi thường cho công ty đối tác đầy đủ theo trị giá hàng hóa bị hư hỏng. Sau khi nhận bồi thường thì công ty đối tác không có ý kiến gì. Do vậy, việc bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa bị hư hỏng khi chưa có giấy ủy quyền và không có hóa đơn thanh lý không ảnh hưởng đến giá trị thiệt hại và trách nhiệm bảo hiểm như các bên đã thỏa thuận.

Từ những nhận định trên, HĐXX nhận thấy cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L là có cơ sở.

b. Quyết định của Tòa án:

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty T, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.

c. Cơ sở pháp lý: 

  • Bộ Luật Hàng hải.
bản án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải 03
Tình huống tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hải.

5. Bản án số: 68/2019/KDM-PT NGÀY 28/06/2019 TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 29/6/2016, Công ty N và Công ty P ký Hợp đồng bảo hiểm thân tàu NS với trị giá là 2,8 triệu USD

Ngày 13/8/2016, tàu NS bị mắc cạn tại khu vực đảo Foammulah, Maldives. Công ty N đã thông báo sự cố, thu thập tài liệu, làm hồ sơ khiếu nại đến Công ty P yêu cầu bồi thưởng toàn bộ giá trị thân tàu là 2,8 triệu USD.

Ngày 28/11/2017, Công ty N ra Văn bản chỉ chấp nhận giải quyết bồi thường số tiền 1.7 triệu USD do định giá tàu tại thời điểm xảy ra tai nạn chỉ có 1.7 triệu USD; không chấp nhận nhiên liệu do chủ tàu cấp xuống tàu vì không đúng theo nội dụng hợp đồng và tinh thần thỏa thuận giữa hai bên.

Do không thống nhất với mức độ tổn thất trên, Công ty N đã làm đơn khởi kiện Công ty P ra Tòa án nhân dân đề nghị Tòa án xem xét buộc Công ty P bồi thường cho Công ty N thiệt hại của vụ tai nạn tàu NS xảy ra ngày 13/8/2016.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 31/2018/KDTM-ST ngày 23/10/2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã quyết định:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty PĐ đối với Công ty P .

– Buộc Công ty P phải bồi thường trả cho Công ty PĐ tổng số tiền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm là 46.824.494.575 đồng.

Không đồng ý với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên:

1. Nguyên đơn kháng cáo một phần đối với Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc P phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 2.800.000 USD và yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi trên số tiền này kể từ ngày 29/12/2016.

2. Bị đơn kháng cáo một phần đối với Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu tính lãi chậm trả bồi thường và yêu cầu chịu chi phí thẩm định giá.

Nhận định và quyết định của Tòa án phúc thẩm:

a. Nhận định của Tòa án:

Hội đồng xét xử nhận thấy theo quy định tại điều 232, 233 Bộ luật hàng hải và các điều 42, 46 và 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm ghi trong Hợp đồng bảo hiểm không được thấp hơn và không được lớn hơn giá trị bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm. Do vậy, số tiền bảo hiểm của thân tàu NS phải dựa vào giá trị thực tế của tàu tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Do Hợp đồng bảo hiểm hai bên ký kết là Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị nên Công ty P phải hoàn trả lại phí bảo hiểm cho Công ty N.

Tại Hợp đồng bảo hiểm hai bên thỏa thuận sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm thì trong 30 ngày doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả số tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Ngày 29/11/2016, Công ty N đã hoàn tất đầy đủ hồ sơ gửi Công ty P yêu cầu thanh toán tiền bảo hiểm. Ngày 29/12/2016, Công ty P chưa thanh toán tiền bảo hiểm thì Công ty P sẽ phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật. Do vậy, Tòa án sơ thẩm đã nhận định ngày 29/6/2017 là ngày sau khi có kết quả thẩm định giá làm căn cứ tính lãi suất tính đến ngày xét xử, nhận định này của Tòa án sơ thẩm chưa phù hợp với quy định tại Điều 29 Luật Kinh doanh bảo hiểm và thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng.

b. Quyết định của Tòa án:

Sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cN và chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty P.

1. Buộc Công ty P phải bồi thường cho Công ty cổ phần vận tải biển và thương mại PĐ số tiền là 54.550.536.173 (năm mươi tư tỷ năm trăm năm mươi triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi ba) đồng, trong đó tiền bảo hiểm là 46.824.494.575 (bốn mươi sáu tỷ tám trăm hai mươi tư triệu bốn trăm chín mươi tư nghìn năm trăm bảy mươi lăm) đồng (tương đương với 1.7 triệu USD), lãi là 7.726.041.598 (bảy tỷ bảy trăm hai mươi sáu triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi tám) đồng (lãi suất 9%/năm tính từ ngày nguyên đơn nộp đủ hồ sơ yêu cầu thanh toán).

c. Cơ sở pháp lý:

  • Bộ Luật Hàng hải;
  • Luật Kinh doanh bảo hiểm.

6. Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng.

Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, giỏi, nhiệt huyết và tận tâm, Luật A+ tự hào là đơn vị hàng đầu tư vấn và giải quyết các tranh chấp hợp đồng bao gồm các dịch vụ sau:

  • Đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến tranh chấp
  • Tư vấn phương án giải quyết tranh chấp (hòa giải, khởi kiện..)
  • Tư vấn thu thập và chuẩn bị chứng cứ
  • Đại diện đàm phán tranh chấp
  • Soạn thảo hồ sơ khởi kiện trong trường hợp khởi kiện
  • Luật sư bảo vệ tại tòa án, trọng tài thương mại

Lý do chọn Luật A+:

Kết quả bền vững, cam kết bảo vệ đến cùng.

Để được nhận kết quả tốt, theo đúng quy định pháp luật, nhận giá trị lâu dài mà không phải làm điều sai trái, không hối lộ, không e ngại sợ hãi cơ quan công quyền.

Sự tử tế.

Được chăm sóc như người thân, ân cần, chân thành, giải thích cặn kẽ, liên tục, luôn bên cạnh trong suốt quá trình thực hiện công việc. Chúng tôi luôn bên bạn lúc thăng hay trầm.

Giỏi chuyên môn

Luật sư nhiều kinh nghiệm, hiểu rõ cách vận hành pháp luật của cơ quan nhà nước, hiểu rõ quy luật vận hành của các mối quan hệ trong xã hội để giải quyết vụ việc trọn vẹn.

Đoạn kết

 

Call Now

Call Now